Bản tin chăn nuôi

Tối ưu hóa năng suất của lợn nái thông qua bổ sung khoáng hiệu quả

Tối ưu hóa năng suất của lợn nái thông qua bổ sung khoáng hiệu quả
Trong nhiều thập kỷ qua trọng tâm được đặt ra là tăng số lượng lợn con cai sữa / mỗi lợn nái /mỗi năm. Hiệu quả đã được chứng minh và giờ đây con số đó đã là 35 lợn con. Nhưng hiện nay xã hội càng ngày càng quan tâm hơn đến quyền động vật, khiển gia tăng áp lực lên người chăn nuôi phải nhốt lợn nái có chửa trong nhóm, giảm què cho lợn nái và cải thiện sức sống của lợn con - Mieke Zoon, Pancosma cho biết.

Trong nhiều thập kỷ qua trọng tâm được đặt ra là tăng số lượng lợn con cai sữa / mỗi lợn nái /mỗi năm.  Hiệu quả đã được chứng minh và giờ đây con số đó  đã là 35 lợn con. Nhưng hiện nay xã hội càng ngày càng quan tâm hơn đến quyền động vật, khiển gia tăng áp lực lên người chăn nuôi phải nhốt lợn nái có chửa trong nhóm, giảm què cho lợn nái và cải thiện sức sống của lợn con - Mieke Zoon, Pancosma cho biết.

Trọng lượng của lợn con sơ sinh giờ đang là một trong những thách thức chính cùng với số con đẻ / ổ tăng lên và giảm tuổi cai sữa xuống ở nhiều thị trường.

Trọng lượng sơ sinh được coi là một chỉ số rất quan trọng đối với năng suất của chúng sau này.

Tối ưu hóa dinh dưỡng thường được xem là mắt xích rất quan trọng để đáp ứng các tiêu chuẩn năng suất cao hơn, mà vẫn bảo vệ được phúc lợi cho lợn nái.

Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận có thể rất khác nhau từ việc giảm stress (đói) ở lợn chửa bằng cách cho ăn tự do (adlibitum), hoặc kích thích quá trình lên men trong ruột thấp hơn (giải phóng  dinh dưỡng chậm hơn), để kích thích sản xuất sữa với nguyên liệu thô (axit amin chuỗi nhánh - Branched Chain Amino Acids (BCAAs)  gồm  Leucine, Isoleucine, and Valine, axit linoleic, nguồn protein dễ tiêu hóa) hoặc trong việc thu nhận thức ăn nói chung ở lợn nái đang cho bú.

Những cách tiếp cận khác nhau này có thể thành công, nhưng chúng cần được hỗ trợ bằng việc bổ sung khoáng chất tối ưu để cho kết quả tốt nhất.

1.     Bổ sung khoáng

Đối với sự phát triển, tăng trưởng và khả năng miễn dịch của vật nuôi, thì việc bổ sung khoáng chất là rất cần thiết trong tất cả các giai đoạn của cuộc sống. Đối với lợn nái cao sản nhiều chức năng quan trọng nhất liên quan đến khoáng chất được mô tả sau đây.

1.1.         Kẽm (Zn)

Kẽm cần để duy trì làn da và móng vuốt khỏe mạnh. Điều này là rất quan trọng đối với lợn nái, như què thường làm giảm lượng ăn, và qua đó ảnh hưởng tới thể tạng và khả năng sinh sản. Ngoài ra, kẽm là một yếu tố quan trọng trong nhiều quá trình miễn dịch để hỗ trợ sức khỏe chi lợn nói chung. Cuối cùng, nó tham gia vào quá trình chuyển hóa carbohydrate và sinh sản.

1.2.            Đồng (Cu)

Đồng tham gia vào nhiều quá trình trong cơ thể, như là sự phát triển của xương, mô liên kết và collagen, sự hình thành của hemoglobin, hoạt  động chống lại các gốc tự do trong cơ thể (chống oxy hóa) và hỗ trợ khả năng miễn dịch.

1.3.            Mangan (Mn)

Mangan quan trọng đối với các chức năng phù hợp của nhiều protein và carbohydrate, khả năng sinh sản, sinh trưởng và phát triển, vì nó cần thiết cho sự hình thành của xương và sụn khớp, và chức năng thần kinh. Cùng với kẽm, đáp ứng yêu cầu của lợn nái về mangan là chìa khóa để ngăn chặn sự què quặt (hỗ trợ cả móng vuốt và bộ xương).

1.4.            Sắt

Sắt kết hợp với các protein và  đồng hình thành nên hemoglobin, rất cần thiết để cung cấp oxy. Sắt cần thiết liên tục để cung cấp hemoglobin cho tế bào hồng cầu mới được sản xuất.

Một thách thức nữa đối với lợn nái cao sản là thay đổi nhu cầu khoáng chất tùy thuộc vào giai đoạn của sản xuất. Đầu tiên là sự phát triển của thai, và bổ sung dự trữ cơ thể (Thể tạng và khoáng hóa của xương). Giai đoạn thứ hai là sự sinh trưởng của thai, tiếp theo là quá trình sinh đẻ, và sản xuất sữa non và sữa, theo sau là một khoảng thời gian cạn sữa và thụ tinh. Hoàn thành thành công nhu cầu về khoáng chất có tính chất quan trọng đối với cả sinh sản thành công và năng suất của con cái được sinh ra. Tuy nhiên hiện nay chỉ có ít nghiên cứu được tiến hành để xác định nhu cầu khoáng chất của lợn nái cao sản, điều đó có nghĩa rằng nhiều loại thức ăn cho lợn nái chứa một lượng lớn các khoáng chất để đáp ứng nhu cầu.

2.     Tối ưu việc bổ sung khoáng chất

Việc hấp thụ các khoáng chất bị hạn chế vì những đối lập và tương tác của chúng với các thành phần thức ăn. Tạo nên các phức hợp - không hòa tan, hoặc quá lớn để được hấp thụ - với các thành phần khác trong thức ăn, sẽ hạn chế sự  tiếp cận với khoáng chất của lợn. Ngoài ra, một số khoáng chất cạnh tranh với các chất vận chuyển giống nhau và các quá trình trao đổi chất cho cho sự hấp thụ, cũng làm hạn chế sự sẵn sàng của các khoáng chất hay vitamin dành cho con vật. Tương tác giữa các khoáng chất luôn luôn hiện hữu và vẫn còn nhiều mối tương tác nữa vẫn còn được phát hiện, cho thấy sự phức tạp trong việc đáp ứng nhu cầu khoáng chất (Hình 1). Tuy nhiên điều chắc chắn là, chỉ đơn giản tăng lượng bổ sung thì đó không phải là giải pháp để đáp ứng nhu cầu về khoáng chất cho vật nuôi.


Hình 1. Bánh xe khoáng chất với các mối tương tác (phác họa  theo các công bố của Watts và CS., 1988-1994).

3.     Khoáng vi lượng hữu cơ

Các tác động tiêu cực có từ sự tương tác của khoáng chất với các thành phần thức ăn và sự cạnh tranh hấp thụ đến khả dụng sinh học (bioavailability) có thể làm giảm được bằng cách kết hợp khoáng chất đó với một phối tử hữu cơ. Các dạng khoáng vô cơ (ví dụ sulfat) ràng buộc lỏng lẽo, và do đó chúng tự do tương tác. Khoáng chất bị ràng buộc hữu cơ không tái phản ứng, và sẽ ngăn chặn sự hình thành phức hợp (complex). Hơn nữa, sự cạnh tranh hấp thụ có thể tránh được một phần qua sự hấp thụ bằng cách sử dụng (các) con đường của các phối tử.

Sự ổn định của mối liên kết hữu cơ là rất cần thiết để ngăn chặn sự tương tác và cạnh tranh, thể hiện giá trị gia tăng của một một khoáng vi lượng hữu cơ (organic trace mineral - OTM). Trong các thử nghiệm khác nhau, sự ổn định vượt trội của một glycinate (khoáng chất liên kết với axit amin glycine) đặc biệt, là B-TRAXIM® 2C (do hãng Pancosma sản xuất – ghi chú của người dịch), đã được chứng minh trong nước (Hình 2), ở pH khác nhau, trong premix (Hình 3), trong dạng thức ăn viên và ngay cả trong sự hiện diện của các chất đối kháng thông dụng và trong thức ăn lỏng có tính axit (Hình 4).


Hình 2. Sự hiện diện của Glycinate kẽm trong nước thể hiện (sử dụng phổ khối bay - flight mass spectrometry), so với phổ lý thuyết (Vacchina et al., 2010).

Hình 3. Việc thu hồi (recovery) sản phẩm B-TRAXIM® 2C (Mn, Zn và Cu) như glycinat trong premix khác nhau.

Hình 4. Sự ổn định của các khoáng chất ràng buộc hữu cơ trong thức ăn lỏng có tính axit.

Các chế phẩm B-TRAXIM® 2C được sản xuất bằng cách sử dụng công nghệ lớp phun duy nhất (unique spouted bed technology), được tối ưu hóa để tạo nên vận hành và tính đồng nhất vượt trội cho sản phẩm. Nghiền mịn mà không gây bụi là kết quả (Hình 5), dòng chảy tự do hoàn chỉnh, với nguy cơ đóng bánh thấp, nhờ diện tích bề mặt giảm của nó so với các sản phẩm mịn hơn, và cải thiện sự phân bổ trong premix và thức ăn, do kích thước hạt nhỏ và đồng nhất. Vì các thành phần được hòa tan hóa trước khi phun, sản phẩm cuối cùng hoàn toàn tan trong nước (Hình 6).

Hình 5. Trái: hạt B-TRAXIM® 2C Zn (vi), phải: B-TRAXIM® 2C Cu (sít lại).


Hình 6. Hòa tan hoàn toàn của sản phẩm B-TRAXIM® 2C so với đối thủ cạnh tranh chính (đầu tiên từ bên phải).

2.1. Glycine như là phối tử

Glycine là acid amin nhỏ nhất (Hình 7), với đặc tính chất chelate tốt (tạo thành glycinat). Chất này cũng không màu, không mùi và có vị ngọt, và cũng tạo nên các đặc tính này cho glycinat. Nó được sử dụng như một chất phụ gia trong thức ăn động vật cảnh và vật nuôi như một chất tăng hương vị. Bởi vì glycine là axit amin có trọng lượng phân tử thấp nhất, glycinat rất cô đọng trong một lượng khoáng chất và dễ dàng hơn để được hấp thụ bởi các động vật so với các phức hợp khoáng chất lớn hơn.

  

Hình 7. Cấu trúc hóa học của axit amin glycine.

Không giống như một số khác các nhà sản xuất khoáng chất vi lượng hữu cơ, cấu trúc hóa học và sự ổn định của B-TRAXIM® 2C trong các môi trường khác nhau đã được thiết lập rõ ràng. Oguey et al. (2008) đã thiết lập cấu trúc hóa học của các hợp chất  tinh thể khác nhau cho một loạt tên gọi của nó, "2C" (Hình 8).


Hình 8. Cấu trúc phân tử của B-TRAXIM® 2C Đồng hoặc Kẽm.

2.2. Tất cả nằm trong một hạt

Tính phân phối đồng nhất trong premix và thức ăn vật nuôi là điều rất cần thiết trong việc bổ sung khoáng chất. Liều lượng thấp cho mỗi tấn thức ăn, gây khó khăn để cung cấp các sản phẩm khoáng chất trong mỗi miếng ăn. Với các tiêu chuẩn sản xuất và chất lượng tại chỗ để đảm bảo các thành phần chính xác như nhau trong mỗi hạt, B-TRAXIM® Pro3-S  đã đi một bước dài hơn trong việc cung cấp cho tất cả các từng con vật các chất dinh dưỡng đòi hỏi. Nó cung cấp cho lợn nái với 3 trong số các khoáng chất cần thiết nhất trong dạng Glycinate, với khả dụng sinh học cao,  xử lý  các đặc điểm và tính đồng nhất.

2.3. Kết quả thí nghiệm trên lợn nái

Một thử nghiệm nái đã được tiến hành bởi Đại học Wroclaw (Ba Lan) để kiểm tra hiệu quả của việc bổ sung khoáng chất với các khoáng chất vi lượng hữu cơ (OTM). Tổng cộng có 210 lợn nái được phân bố ngẫu nhiên vào 3 chế độ ăn. Các chế độ ăn được bổ sung với các khoáng chất vô cơ ở mức độ thương mại ("Đối chứng"), với mức lượng khoáng giảm 50% chứa chelate đậu nành ("Nhóm chelate"), hoặc với mức khoáng chất giảm trong đó có 50% gồm phức hợp  dựa trên glycine ("BT2C") (Bảng 1).

 

Giai đoạn

Kẽm

Măng gan

Đồng

Đối chứng

Chửa

83

60

11

 

Cho bú

110

80

15

Chelate

Chửa

83

50

8

 

Cho bú

83

50

8

BT2C

Chửa

83

50

8

 

Cho bú

83

50

8

Bảng 1. Mức bổ sung khoáng cho từng lô thí nghiệm

Mỗi lô có 10 lợn nái đang cho con bú (cai sữa vào ngày thứ 21). Sau khi đẻ, lợn con chết và lợn con nhẹ hơn 1200g ở ngày thứ 2 đã được loại thải và sau khi cai sữa việc phối giống lại của lợn nái cũng đã được theo dõi.

Lợn con của lợn nái được cho ăn OTM có khối lượng lúc sinh nặng hơn (P <0,05), và vì thế số lợn bị thải loại ít hơn (P <0,05, kết quả không được hiển thị). Ngoài ra, lợn nái nuôi bằng OTM giảm trọng lượng thấp hơn và 30 ngày sau khi đẻ tỉ lệ thụ tinh thành công tăng lên (P <0,05) (bao gồm thụ tinh đầu tiên và thứ hai). Không có khác biệt đáng kể giữa hai nhóm cho ăn chelate và BT2C về chỉ tiêu này, nhưng có sự vượt trội về số tuyệt đối ở nhóm BT2C (Hình 9).

Kết quả


Hình 9: Năng suất lợn nái và con cái của chúng trước khi cai sữa.

Số liệu này cho thấy rằng một bổ sung vi lượng khoáng chất giảm, một phần với OTM thậm chí đã cải thiện hiệu suất của lợn nái và con cái của chúng. Điều này cho thấy rõ ràng rằng bổ sung khoáng chất quá mức không phải là giải pháp để đáp ứng khoáng chất của lợn nái yêu cầu.

Bổ sung khoáng chất cho lợn nái một phần bằng OTM có thể hoặc ảnh hưởng đến chuyển giao khoáng chất cho thai hoặc cho heo con sơ sinh qua sữa. Trong nghiên cứu này, những cải tiến về số lợn con sinh ra sống và thể trọng lợn con sơ sinh, đặc biệt là sử dụng BT2C, cho thấy thai đã nhận được sự ảnh hưởng tích cực.

4.     Kết luận

Bổ sung khoáng chất cho lợn nái là điều cần thiết về mặt phúc lợi và hiệu suất của lợn nái. Với sự gia tăng áp lực từ xã hội đáp ứng phúc lợi cao hơn đối với lợn nái, bổ sung khoáng chất là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng móng, khả năng sinh sản và phát triển của con cái. Cun cấp khoáng vô cơ không hiệu quả cho việc bổ sung  khoáng do có nhiều đối lập giữa chúng với các chất dinh dưỡng khác. Bổ sung cho lợn nái mắn đẻ chất OTM nói chung và B-TRAXIM® 2C nói riêng có thể cải thiện cả về sinh sản và năng suất con cái. Sử dụng B-TRAXIM® Pro3-S - tất cả-trong-một  sẽ bổ sung khoáng chất để đạt cấp độ tiếp theo.

5.     Tài liệu tham khảo

  • Mineral wheel diagrams illustrating the antagonistic relationships between minerals were developed by David L. Watts, Ph.D., Director of Research for Trace Elements. The research was published between 1988 and 1994 in the Journal of Orthomolecular Medicine.
  • Characterization of metal glycinate complexes by electrospray Q-TOF-MS/MS and their determination by capillary electrophoresis-ICP-MS: application to premix samples, V. Vacchina, S. Oguey, C. Ionescu, D. Bravo and R. Lobinski, Anal. Bioanal. Chem., 2010.
  • Chemical identity of crystalline trace mineral glycinates for animal nutrition; S.Oguey, A.Neels and H.Stoeckli-Evans; Trace elements in animal production systems, OTEANE, 2008.

Người dịch: Võ Văn Sự. Nguồn: The Pigsite. 09 December 2016.  Optimise Sow Performance Through Efficient Mineral Supplementation. http://www.thepigsite.com/articles/5279/optimise-sow-performance-through-efficient-mineral-supplementation/

Ghi chú: Chelate là phức chất vòng càng (càng cua) giữa các hợp chất hữu cơ dẫn xuất từ Aminoaxit, Polycacboxylic axit với các ion kim loại. Phức này có độ tan hoàn toàn trong nước.

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
 
 
 
 
Thiết kế website