Luận án

Thông báo: THÔNG TIN TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS. Trịnh Hồng Sơn

Thông báo: THÔNG TIN TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS. Trịnh Hồng Sơn
Tên đề tài: KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ GIÁ TRỊ GIỐNG CỦA DÒNG LỢN ĐỰC VCN03

THÔNG TIN TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

 

Đề tài luận án: “Khả năng sản xuất và giá trị giống của dòng lợn đực VCN03”

Chuyên ngành: Di truyền và Chọn giống vật nuôi    

Mã số: 62.62. 01.08               

Nghiên cứu sinh: Trịnh Hồng Sơn

Người hướng dẫn khoa học:  1. TS. Nguyễn Quế Côi

                                            2. PGS.TS. Đinh Văn Chỉnh

Cơ sở đào tạo:  Viện Chăn nuôi

NHỮNG KẾT QUẢ MỚI CỦA LUẬN ÁN

Lợn nái dòng VCN03 có năng suất sinh sản đạt ở mức thấp. Số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ lần lượt là 8,85 con/ổ; 8,15 con/ổ. Lợn đực dòng VCN03 có chất lượng tinh dịch tốt đạt được tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại quyết định số 1712/QĐ-BNN (2008) quy định đối với lợn đực ngoại sử dụng trong thụ tinh nhân tạo. Lợn đực dòng VCN03 có khả năng sinh trưởng tốt, tỉ lệ nạc cao, dầy mỡ lưng thấp. Cụ thể, tăng khối lượng trung bình trong giai đoạn kiểm tra năng suất là 796,18 g/ngày, tỉ lệ nạc ước tính 60,37%, dầy mỡ lưng 9,88 mm. Thịt lợn đực dòng VCN03 đạt chất lượng bình thường.

Hệ số di truyền về các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái dòng VCN03 ở mức thấp (0,10 đến 0,19), ngoại trừ khối lượng cai sữa/ổ ở mức trung bình (0,24). Hệ số di truyền về khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn đực dòng VCN03 ở mức trung bình và mức cao, cụ thể: h2 = 0,34 ở cả 2 tính trạng tăng khối lượng g/ngày tuổi và độ dầy mỡ lưng; h2 ở 2 tính trạng độ dày cơ thăn và tỉ lệ nạc, tương ứng là 0,58 và 0,56. Việc chọn lọc ứng dụng giá trị giống ước tính đã tăng khả năng tăng khối lượng 60,09 g/ngày tuổi, dầy mỡ lưng -0,89 mm, dầy cơ thăn +1,96 mm, tỉ lệ nạc tăng 1,4% sau 1 thế hệ chọn lọc. Điều này, chứng tỏ chọn lọc dựa vào GTGUT có thể sẽ đem lại hiệu quả chọn lọc cao.

Đã lựa chọn được 5% nái có giá trị giống ước tính cao nhất trên mỗi tính trạng chọn lọc (18 con) và 1% cá thể đực chọn lọc có giá trị giống ước tính cao nhất trên mỗi tính trạng chọn lọc (tổng 9 con). Các cá thể giống này là nguồn nguyên liệu di truyền tốt làm cơ sở cho việc cải tiến di truyền nâng cao chất lượng dòng lợn đực VCN03 tại Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp.

                 

Người hướng dẫn khoa học

Nghiên cứu sinh

(ký, ghi rõ họ tên)

(ký, ghi rõ họ tên)

 

BRIEF INFORMATION OF PhD THESIS

 

         Title of thesis : “Performance and breeding value of VCN03 sire line”

            Major: Animal genetics and breeding.

            Code number: 62.62.01.08

            Full name of PhD Student:  Hong Son Trinh

            Supervisors: 1. Dr. Que Coi Nguyen

                                 2. Ass. Prof,  Dr. Van Chinh Dinh

Educational institution:  National Institute of Animal Sciences. 

THE NEW FINDINGS

Reproductive performance of sows of VCN03 sire line was low. Alive newborn number, weaned number/litter and weaned weight/litter was 8.85 piglets; 8.15 piglets and 58.56 kg, respectively. Semen quality of boars of VCN03 sire line was good and met the temporary national standard for exotic boars in AI programs issued by Ministry of Agriculture and Rural Development (Decision N01712 QD-BNN, 2008).

The VCN03 boars showed good growth performance, high lean meat percentage and low back fat thickness.ADG, lean meat percentage and back fat thickness  of VCN03 boars during the performance testing period were 796,18 g/day; 60,37% and 9.88 mm, respectively.

Heritability of most reproductive performance trait of sows of VCN03 sire line was low (0.10 to 0.19). Heritability of weaned weight/litter trait was medium (0.24). Heritability of growth and meat productivity traits of boars of VCN03 sire line was low or high depending on studied traits. Whie heritability of both ADG and back fat thickness traits was only 0.34, heritability of loin muscle thickness and and lean meat percentage was high (0.58 and 0.56Reproductive performance was strongly influenced by external factors therefore phenotype based selection was not effective.

After one generation selection using EBV, ADG, loin muscle thickness, lean meat percentage of boars of VCN03 sire line were increased by 60.09 g/day; 1.96mm; 1.4%, respectively. After one generation selction using EBV, backfat thickness of boars of VCN03 sire line were decreased by 0.89 mm. These progresses indicated that EBV based selection was very effective.

Five percent  of sows with the highest EBV per each selective traits (18 sows) and 1% of boars (9 boars) with the highest EBV for each selective trait were selected for the next breeding programs. These selective individuals were seen as a precious genetic resource to increase genetic progress and improve the productivity of VCN03 sire line.

Supervisors

PhD Student

(Signature and Full name)

(Signature and Full name)

+ Thông tin mới về luận án

+ Luận án chính

+ Tóm tắt luận án tiếng việt

+ Tóm tắt luận án tiếng anh

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Thông báo
Quảng cáo
Thư viện trực tuyếnĐào tạo sau đại họcĐào tạo theo nhu cầuBản tin Khoa học Công nghệQuy trình, kỹ thuật chăn nuôi, Thực hành chăn nuôiTạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
Thống kê truy cập
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
Thiết kế website