Tin KHCN

Tám yếu tố ảnh hưởng tới lượng ăn của lợn

Tám yếu tố ảnh hưởng tới lượng ăn của lợn
Hầu hết các bài viết về lượng thức ăn mà lợn nhận được từ lúc cai sữa đến kết thúc (W2F) tập trung phân tích những tác động của các yếu tố riêng lẽ - chẳng hạn như nước uống, máng ăn, chế độ năng lượng hoặc mật độ nuôi- đến tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Tuy nhiên, điều quan trọng là các nhà chăn nuôi hiểu biết thế nào về các yếu tố đó – những yếu tố ảnh hưởng đến lượng thức ăn mà lợn ăn được - tương tác như thế nào với các yếu tố khác, và chúng được xử lý, hiệ chỉnh thế nào ở mức độ mong manh để đạt mục tiêu là nâng cao hiệu quả việc nuôi lợn

PIC (Pig Improvement Company)

28 Tháng 10 2016

Hầu hết các bài viết về lượng thức ăn mà lợn nhận được từ lúc cai sữa đến kết thúc (W2F) tập trung phân tích những tác động của các yếu tố riêng lẽ - chẳng hạn như nước uống, máng ăn, chế độ năng lượng  hoặc mật độ nuôi-  đến tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Tuy nhiên, điều quan trọng là các nhà chăn nuôi hiểu biết thế nào về các yếu tố đó – những yếu tố ảnh hưởng đến lượng thức ăn mà lợn ăn được - tương tác như thế nào với các yếu tố khác, và chúng được xử lý, hiệ chỉnh thế nào ở mức độ mong manh để đạt mục tiêu là nâng cao hiệu quả việc nuôi lợn. Mục tiêu của bài viết này là xem xét tám yếu tố ảnh hưởng như thế nào  tới mức ăn từ cai sữa đến mổ thịt và chúng được điều chỉnh như thế nào ở một chuồng lợn.

1) Ô ăn

Lưu ý của người dịch về “ô ăn”. Một máng ăn có thể có 1 đến nhiều ô.

Mặc dù nhiều người chăn nuôi đều có cách phân chia máng ăn ra 1 đến nhiều ô cho đàn lợn của họ, nhưng cũng khó có thể đạt mức độ chính xác mà con vật yêu cầu. Khối lượng và rộng vai của con vật là các số đo  dùng để xác định thích hợp kích thước của 1 ô ăn. Dưới đây là bảng mô tả mối quan hệ giữa trọng lượng lợn, chiều rộng vai và chiều dài của 1 ô ăn cho con vật do Tiến sĩ Mike Brumm (2012) tính toán.

 

Độ dài của ô ăn (cm) = 0,41 + 0,0069 Khối lượng (kg) + 1,07 Rộng vai (cm)

Hệ số xác định của phương trình là  R-Sq = 99.7%,

(Ghi chú: Phương trình này do người dịch xây dựng dựa trên số liệu ở bảng).

Máng ăn cần đủ để cho phép một con lợn tự do ăn, nhưng nếu nhiều ô cũng đủ chỗ cho các con lợn khác ăn cùng lúc. Ví dụ, nếu máng cho 3 con lợn có thể ăn cùng một lúc thì độ dài cho mỗi chỗ là 38 cm theo khuyến cáo của PIC.

2-3. Độ dài 1 ô ăn và mật độ đàn

Chiều dài của 1 ô ăn xác định bao nhiêu lợn có thể cho ăn trên cùng một máng. Số đo này là giá trị của chiều dài của cả một cái máng ăn chia cho số lợn trong ô chuồng. Năm 2013, PIC đã tiến hành một nghiên cứu để hiểu mối quan hệ giữa chiều dài 1 ô ăn và mật độ nuôi. Điều được nhận thấy là, tác động của chiều dài 1 ô ăn đến mức tăng trọng binh quân ngày (ADG) và tỉ lệ sử dụng thức ăn (FCR) ở mật độ (0,59m2/con) quan trọng hơn so với mật độ thấp hơn (0,75m2/con). Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, ADG và FCR đều tốt hơn khi tăng chiều dài 1 ô. PIC khuyến nghị là số lợn ăn cùng trên 1 máng ăn thức ăn khô là 8 con/chỗ (tức (47,75 – 50,8 cm/con – 1 ô ăn) và máng ăn thức ăn ướt là 12 con/chỗ (tức 31,75cm/con – 1 ô ăn).

 

 

(Lưu ý: dấu chấm trong các con số trong biểu đồ được hiểu là dấu phẩy)

 4) Điều chỉnh độ dài của 1 ô ăn

Có một mối quan hệ rõ ràng giữa việc điều chỉnh độ dài của 1 ô ô ăn, mức tăng trọng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn. Các ô ăn càng hẹp, tức lợn đứng càng sát nhau thì hiệu quả chuyển hóa thức ăn tăng nhưng tăng trọng lại  giảm. Chỉ số này xác định một con lợn sẽ sử dụng không gian máng ăn trong bao lâu. Ví dụ, nếu quyết định sử dụng 40% thể tích của máng và do lý do thị trường cụ thể, thì cần nâng mật độ nuôi hoặc trọng lượng bán rav thị trường, mỗi máng ăn sẽ có nhu cầu thức ăn chăn nuôi cao hơn do đó nó có thể giúp đỡ rất nhiều để tăng sức chứa để giảm sự cạnh tranh mánh ăn.

5) Sẵn nước uống

Lượng thức ăn mà vật nuôi ăn phụ thuộc vào lượng nước uống, vì vậy đảm bảo cho vật nuôi được tiếp cận nước uống là một yếu tố quan trọng. Bốn điểm quan trọng cần xem xét (khuyến nghị của PIC): 1) Số lợn / mỗi nuốm uống (10 con lợn / nuốm) 2) Lượng nước chảy (1 lít / phút ở chuồng  tư khi cai sữa đến kết thúc) 3) Chiều cao nuốm uống (nuốm uống cần được để mức cao ngang vai) 4) Áp lực nước (1.05- 2,81 kg/cm2). Điều quan trọng là phải xem xét nhu cầu nước bổ sung khi mật độ nuôi hoặc trọng lượng bán ra thị trường tăng hay mức độ năng lượng của khẩu phần ăn bị giảm. Trong trường hợp máng ăn kiểu lẫn ướt-khô, nên sử dụng máng uống phụ trợ khi nhiệt độ phòng là trên 29,4oC và trọng lượng lợn trên 81,65 kg để giảm sự cạnh tranh về nước uống ở máng.

6) Mức năng lượng của chế độ ăn

Điều đã được biết là mức năng lượng trong chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng đến lượng thức ăn mà lợn ăn được. Do đó, điều quan trọng là cập nhật cho người nuôi vì quản lý hệ thống cho ăn có thể dễ dàng được thay đổi để để hiệu chinh những thay đổi năng lượng. Ví dụ, mức độ chứa của máng phải được tăng lên khi một khi có sự giảm mức năng lượng ở chế độ ăn uống do đàn lợn tăng ăn và thời gian sử dụng máng ăn. Thường thì các trang trại tăng tối đa tỉ lệ máng ăn/lợn (để giảm lãng phí nước) và sự thay đổi trong mức độ năng lượng thức ăn có thể gây ra vấn đề bằng cách tăng nhu cầu về nước và không đáp ứng nhu cầu về nước uống.

7) Di truyền

Các dòng di truyền khác nhau có thói quen ăn ăn thức ăn khác nhau. Những thói quen ấy được đặc trưng bởi; 1) lượng thức ăn tiêu thụ mỗi ngày 2) số lần ăn mỗi ngày và 3) thời gian ăn mỗi lần được cho ăn. Ví dụ, khi chúng ta so sánh các dòng di truyền có mức tăng trọng hàng ngày cao và thấp, ta thấy rằng có sự khác biệt về lượng ăn cũng như hành vi ăn uống. Dòng ăn ít  thường đến máng nhiều hơn và ăn ít hơn. Vì vậy, điều tốt để hiểu được thói ăn của các dòng lợn, ta cần sắp đặt hệ thống máng ăn cho phù hợp. Thiết lập máng ăn có thể được điều chỉnh chặt chẽ hơn đối với dòng lợn ăn ỉ, còn dòng lợn ăn  nhiều hơn cần phải thiết lập máng ăn sao cho lợn có thể đến máng ăn nhiều lân hơn.

8) Nhiệt độ

Tác động của nhiệt độ môi trường đến năng suất của lợn là điều được biết rõ. Tăng nhiệt độ sẽ tác động tiêu cực đến tăng trọng, do ăn giảm. Ngược lại, nhiệt độ thấp hơn sẽ gây nên hao hụt năng lượng do lợn chi ra để duy trì nhiệt độ cơ thể. Trong tình huống này, lợn sẽ ăn tốt, nhưng sẽ không có sự tăng cân nhiều. Nhiệt độ chuồng nuôi phụ thuộc vào thiết kế hệ thống chuồng trại…, trọng lượng của lợn và liệu có một vùng thoải mái cho lợn cai sữa trong những tuần đầu tiên (đạt dưới 35 oC ở hệ thống sưởi tại trung tâm vùng thảm nằm (nệm (cao su, rơm rạ… nằm cho lợn – chú thích của người dịch) và mỗi con lợn có 0,037m2 tại vùng thảm nằm). Quy trình nuôi lợn từ cai sữa đến kết thúc của PIC có tài liệu tham khảo khác nhau về đường cong nhiệt độ theo các kịch bản chăn nuôi khác nhau. Những thay đổi về mật độ lợn hoặc trọng lượng bán có thể ảnh hưởng đến nhu cầu thông gió trong chuồng trại và nếu các thiết bị thông gió không được thiết lập để duy trì đủ mức trao đổi không khí, thiệt hại sản xuất sẽ xảy ra, do đó thay đổi trong chiến lược tiếp thị có thể hữu ích trong tình huống này. Biểu đồ dưới đây miêu tả ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường đến tăng trong ngày và chuyển hóa thức, lượng thức ăn mà con vật ăn (Coffey et al., 1995).

Võ Văn Sự dịch. Vovansu.vcn@gmail.com Nguồn: PIC. Eight Dimensions of Pig Feed Intake. 28 October 2016http://www.thepigsite.com/articles/5328/eight-dimensions-of-pig-feed-intake/

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Thông báo
Quảng cáo
Thư viện trực tuyếnĐào tạo sau đại họcĐào tạo theo nhu cầuBản tin Khoa học Công nghệQuy trình, kỹ thuật chăn nuôi, Thực hành chăn nuôiTạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
Thống kê truy cập
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
 
 
 
Thiết kế website