Bản tin chăn nuôi

Sữa A2 (A 2Milk)

Sữa A2 (A 2Milk)

Võ Văn Sự tổng hợp

04Apr18

1.      Lời nói đầu

Nếu chúng ta tra từ khóa “mua sữa A2 ở đâu”, ta sẽ có ít nhất 630 000 tin xuất hiện…

Sữa A2 đã xuất hiện tại VN ít nhất 2 năm trước đây. Và giá cả không rẻ.

 

Trong bài này chúng tôi sẽ biên dịch lại những thông tin về loại sữa này. Bên cạnh đó cũng giới thiệu về sự đấu tranh không mệt mỏi để tạo thị trường của các công ty bán loại sữa này.

2.      Sữa A2 là gì?

Sữa A2 là sữa bò mà thành phần đạm (protein) của nó không chứa một dạng của β-casein gọi là A1 mà thay vào đó là A2. Sữa A2 đã được Công ty Sữa A2 (The a2 Milk Company) bán ra chủ yếu  ở Úc, New Zealand, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh Quốc.

Công ty Sữa a2 cho rằng sữa A1 có hại,  nhưng Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) cho rằng không có bằng chứng chứng minh rằng các chất hoạt tính sinh học trong sữa A1 có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ.

A1 và A2 beta-casein là hai biến thể di truyền của protein beta-casein sữa với sự khác nhau giữa chúng là một axit amin (amino acid). Loại A1 beta-casein là loại phổ biến nhất được tìm thấy trong sữa bò ở Châu Âu (trừ Pháp), Mỹ, Úc và New Zealand. Một phương pháp kiểm định di truyền, được phát triển bởi Công ty sữa a2, dùng xác định con bò X sản xuất sữa protein loại nào, A2 hoặc A1. Kiểm định này cho phép công ty này chứng nhận các nhà chăn nuôi bò sữa sản xuất loại sữa không chuyển hóa thành β-casomorphin 7.

3.      Ảnh hưởng đến sức khỏe

Năm 2009 Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (European Food Safety Authority - EFSA) đã tổng kết tài liệu khoa học về vấn đề này và sau đó đã công bố kết quả nghiên cứu đó. Ở một phần nghiên cứu này, EFSA đã xem xét các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã được thực hiện trên loại βcasein loài bò (bovine beta-casein - BCM-7), và tại đây họ đã phát hiện ra rằng BCM-7 có thể hành động như một chất đồng vận thụ thể opioid yếu (weak opioid receptor agonist). EFSA không tìm thấy mối liên hệ giữa bệnh mãn tính và uống sữa có protein A1. Trong hầu hết các nghiên cứu về vấn đề này trên động vật, BCM-7 đã không được cho con vật uống trực tiếp, - cách thức mà con người sử dụng nó -, mà là tiêm thẳng vào khoang phúc mạc hoặc thậm chí trực tiếp vào tủy sống hoặc não của động vật. Cách nghiên cứu này không hữu ích cho việc tìm hiểu liệu BCM-7 có ảnh hưởng thế nào đến con người. EFSA đã nhấn mạnh đến sự nguy hiểm của việc rút ra các kết luận từ mối tương quan (thống kê) được xác định trong các nghiên cứu dịch tễ học và nguy cơ một khi không xem xét tất cả các bằng chứng. Trong  tổng kết năm 2009 đó đã không tìm thấy một báo cáo nào về tiêu thụ sữa casein A1 gây ra bệnh tiểu đường. Tiếp đó một nghiên cứu năm 2014 đã được tiến hành để đánh giá về mối quan hệ giữa việc dùng các sản phẩm sữa (bao gồm các protein A1 và A2) và tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường. Nghiên cứu cho thấy mối tương quan (correlation) giữa tiêu thụ sữa của trẻ sơ sinh và tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường týp 1 ngược lại với sự phát triển của bệnh đái tháo đường týp 2. Mối tương quan này mang tính thăm dò; không thể xác định được thành phần hay thành phần sữa nào có thể gây ra những ảnh hưởng này, và không chắc nghiên cứu đắt tiền và phức tạp để xác định câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ được tiến hành.

Sữa có chủ yếu chứa A2 không phải là sữa thay thế cho trẻ sơ sinh có dị ứng với protein sữa bò.

Công ty Sữa a2 nói rằng những người từng khó chịu khi sử dụng sữa bò bình thường có thể tốt hơn khi dùng sữa A2.

4.      Lịch sử

Trong những năm 1980, một số nhà nghiên cứu y học đã bắt đầu tìm hiểu liệu một số peptide (bao gồm cả peptide từ casein) được tạo ra trong quá trình tiêu hóa có tác động tiêu cực.

Mối quan tâm về sự khác biệt giữa protein beta-casein A1 và A2 bắt đầu vào đầu những năm 1990 thông qua nghiên cứu dịch tễ học và nghiên cứu ban đầu trên động vật do các nhà khoa học ở New Zealand tiến hành. Các nghiên cứu cho thấy sự tương quan giữa tỷ lệ lượng sữa A1 với tỷ lệ các bệnh mạn tính khác nhau ở một số quốc gia. Nghiên cứu này gây nên làn sóng quan tâm cho giới truyền thông, cũng như trong cộng đồng khoa học và các doanh nhân. Nếu thực sự đúng là BCM-7 có tác dụng gây hại cho con người, thì đây quả là vấn đề sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng, cũng như là thương mại.

Sữa bò có khoảng 87% nước và 13% chất rắn (vật chất khô). Chất rắn gồm chất béo, carbohydrate dưới dạng lactose, khoáng chất và protein. Thành phần chính của protein sữa là casein và trong đó 30-35% casein (tương đương với hai muỗng cà phê trong một lít sữa) là beta-casein. Phổ biến nhất của các biến thể này là A1 và A2 (được đặt theo thứ tự mà các nhà khoa học xác định), với sự khác biệt duy nhất giữa hai loại này là một trong 209 amino acids tạo nên các protein beta-casein: một proline xảy ra ở vị trí 67 trong chuỗi axit amin tạo nên beta beta-casein, trong khi ở A1 beta-casein một histidine xảy ra ở vị trí đó. Các nghiên cứu trong các tế bào thấy rằng các enzyme tiêu hóa cắt protein tương tác với beta-casein chính xác ở vị trí đó, do đó các protein A1 và A2 betainin được xử lý khác nhau. Một enzyme có thể không cắt được protein A2 ở vị trí đó, vì vậy BCM-7 là không hình thành từ protein A2. Các nghiên cứu ở người đã không phát hiên rằng BCM-7 được hình thành trong hệ tiêu hóa của con người. BCM-7 cũng có thể được tạo ra trong quá trình lên men sữa hoặc thông qua quy trình sản xuất pho mát; những quy trình tương tự cũng có thể phá hủy BCM-7.

Các nhà khoa học tin rằng sự khác biệt bắt nguồn từ một sự đột biến xảy ra từ 5.000 đến 10.000 năm trước - khi bò được đưa về phía bắc vào châu Âu. Ở đây axit amin proline ở vị trí 67 đã được thay thế bằng histidine. Đột biến này sau đó lây lan rộng khắp các đàn bò phương Tây thông qua công việc  nhân giống.

Tỷ lệ protein A1 và A2 beta-casein khác nhau giữa các đàn gia súc, cũng như giữa các nước và các tỉnh. Trong khi các giống bò ở Châu Phi và Châu Á sản xuất beta-casein, thì sữa A1 khá  phổ biến ở các giống bò ở thế giới phương Tây. Loại beta-casein A1 là loại phổ biến nhất được tìm thấy trong sữa bò ở châu Âu (trừ Pháp), Mỹ, Úc và New Zealand. Trung bình hơn 70% bò Guernsey sản xuất sữa chủ yếu là A2 protein, trong khi 46-70% bò Holsteins và Ayrshires sản xuất sữa A1.

5.      Công ty sữa A2

Một công ty, gọi là Tập đoàn A2, được thành lập ở New Zealand vào năm 2000 để thương mại hóa một kiểm định (test) di truyền để xác sữa một con bò X không chứa protein A1 hay không, và  rồi để tiếp thị sữa đó với thương hiệu của nó. Năm 2003, trang web của A2 cho biết: "Beta casein A1 có thể là yếu tố nguy cơ chính cho bệnh tim ở người trưởng thành, và cũng có liên quan đến sự tiến triển của bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulin ở trẻ em" và CEO đã liên kết A1 với tâm thần phân liệt và chứng tự kỷ. A2 cũng yêu cầu Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm Australia New Zealand (Food Standards Australia New Zealand) thực hiện cảnh báo sức khoẻ đối với việc uống sữa thông thường.

Công ty này ban đầu quảng cáo sữa của họ không chứa đạm A1. Nhưng năm 2003 Ủy ban Thương mại New Zealand đã phát hiện quảng cáo sai và và cấm công ty quảng cáo tiếp.

Công ty A2 sau đó đã đổi tên thành Công ty TNHH Sữa a2 vào tháng 4 năm 2014, và vào thời điểm đó sữa của họ chiếm khoảng 8% thị phần của thị trường sữa ở Úc.

"a2 milk" và "A2 MILK" là những thương hiệu của Công ty sữa a2.

6.      Sản xuất và bán thương mại

Công ty A2 đã được Cơ quan Công nghiệp Sữa New Zeland (New Zealand Dairy Board) cấp bằng sáng chế về các xét nghiệm di truyền để xác định dạng beta-casein trong sữa và liên quan đến những tác hại tiềm năng đến sức khỏe con người từ sữa A1.

Công ty a2 Milk nắm giữ bản quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới để bảo vệ các sản phẩm kinh doanh, thương hiệu, bí mật thương mại. Họ cũng nắm giữ các loại bằng sáng chế gồm kiểm tra di truyền và các phương pháp phát triển đàn bò A2, cũng như các phương pháp kiểm tra hàm lượng protein và hàm lượng axit béo sữa, sữa công thức cho trẻ sơ sinh, chất bổ sung chế độ ăn kiêng với A2 beta-casein, và thậm chí sử dụng A2 để điều trị bệnh tật.

 

6.1.            Úc và New Zealand

Tập đoàn A2 tập trung nỗ lực ban đầu của mình vào việc kêu gọi nông dân thực hiện các chương trình nhân giống để phát triển đàn sản xuất sữa chủ yếu là protein A2. Tuy nhiên, việc đưa loại sữa này đã bị trì hoãn bởi sự phản đối từ Fonterra  - một tổ chức có hợp đồng với khoảng 98% các trang trại sữa ở New Zealand. Các hợp đồng này được bảo vệ theo luật New Zealand theo Đạo luật Cải cách Ngành sữa năm 2001. Tìm kiếm đòn bẩy trong cuộc chiến với Fonterra trong việc tiếp cận nông dân và về các quyền sáng chế, Howard Paterson, CEO của Tập đoàn A2, đã dẫn dắt công ty này kiện tụng Fonterra, yêu cầu Tòa án Tối cao New Zealand ra lệnh cho Fonterra đưa ra cảnh báo về sức khoẻ về các loại sữa thông thường liên quan đến nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 1, bệnh tim, chứng tự kỷ và tâm thần phân liệt do sự hiện diện của A1 beta-casein và buộc Fonterra phải công bố công khai tất cả các thông tin về liên kết giữa beta-casein và các nguy cơ sức khoẻ . Vụ kiện đã đe doạ nền kinh tế và danh tiếng quốc tế của New Zealand vào thời điểm Fonterra chịu trách nhiệm về 20% xuất khẩu của New Zealand. Báo chí về vụ kiện và mối quan tâm của công chúng đối với các tuyên bố của Tổng công ty A2 đã đưa tới việc Cơ quan An toàn Thực phẩm New Zealand và Bộ Y tế và Tiêu chuẩn Thực phẩm Úc và New Zealand công bố các báo cáo và tuyên bố xác nhận sự an toàn của sữa thông thường .

Cuối tháng 4 năm 2003 Tổng công ty A2 đã có thể thỏa thuận với đủ số nông dân để sản xuất sữa này ở New Zealand. Vào giữa năm 2003, cả hai người sáng lập công ty đều qua đời. Tháng 7, Paterson được tìm thấy đã chết trong phòng khách sạn trong một chuyến đi công tác ở tuổi 50,và một tháng sau đó, bác sĩ Corran McLachlan cũng qua đời do ung thư ở tuổi 59. Tại New Zealand, sẽ phạm pháp nếu đưa ra các tuyên bố về sức khoẻ  từ một thực phẩm nào đó mà không có bằng chứng khoa học. Và cũng tương tự nếu đăng ký thực phẩm như dược phẩm. Tháng 11/2003 Ủy ban Thương mại New Zealand đã khuyên Công ty A2 và các nhà sản xuất sữa được cấp phép sản xuất sữa  A2 đã đồng ý sửa đổi tuyên bố về sức khoẻ trong tài liệu quảng cáo của họ sau khi nhận cảnh báo từ ủy ban này. Vào cuối năm 2003 Tập đoàn A2 đã suy yếu và đã rút đơn kiện chống lại Fonterra và các cuộc đàm phán đã được nối lại.

Trong khi đó, vào tháng 3 năm 2003 tại Úc, một trang trại sản xuất bơ sữa không liên kết với Tập đoàn A2 do gia đình Denniston điều hành đã đưa sữa có protein A2  ra thị trường thế giới.  Một thời gian ngắn sau đó, một công ty của Úc gọi là A2 Marketer đã được cấp bằng sáng chế và thương hiệu A2 từ Tập đoàn A2 và trả cho các nhà chăn nuôi bò sữa Úc với khoản tiền cao hơn nếu cung cấp được sữa A2 tinh khiết. Công ty Dennistons và A2 Marketers  đã khuêch trương tiếp thị sữa A2, cảnh báo về sự nguy hiểm của sữa A1. Tuy nhiên, quảng cáo của họ phạm luật pháp Úc nghiêm cấm các công ty đưa ra các tuyên bố về sức khoẻ gây hiểu lầm về thực phẩm. Và vào tháng 9 năm 2004, họ đã bị phạt tới 15.000 đô la sau khi thừa nhận 6 lần vi phạm luật.  Công ty này, vốn đã ở trong tình trạng tài chính mờ nhạt kể từ khi bắt đầu giao dịch vào tháng 5, đã đi vào hoạt động vào tháng 10 và đã được thanh lý vào tháng 11,  chiếm dụng hàng chục ngàn đô la của nông dân và các nhà chế biến. Ngân sách Chính phủ Liên bang trị giá 1,27 triệu đô la Úc dành cho công ty vào tháng 8 như là một phần của Chương trình Hợp tác Vùng cũng đã bị huỷ bỏ.  Công ty A2 thành lập công ty con và công ty con A2 Australia để tiếp thị và sản xuất sản phẩm của mình.  Công ty A2 Úc ký các hợp đồng mới với nông dân chăn nuôi bò sữa, những người có đàn bò A2, hứa hẹn những điều khoản thanh toán tốt hơn  và trả trước một tuần thay vì hàng tháng sau khi nhận được sữa.

Vào tháng 12, Tập đoàn A2 đã bán cổ phần tại Công ty A2 Australia cho Fraser & Neave, một nhà tiếp thị thực phẩm khổng lồ ở các thị trường châu Á, với giá khoảng 1,1 triệu USD. Tổng công ty A2 đã đánh mất khoảng 1,3 triệu USD cho năm 2004, một khoản tương tự như năm trước đó; việc chuyển bán này cho phép Tập đoàn A2 dựa vào Fraser & Neave để xây dựng các doanh nghiệp Úc và châu Á. A2 tập trung vào việc hồi phục từ cái chết của những người sáng lập tổ chức và tài chính, dựa vào giấy phép của New Zealand để phát triển thị trường New Zealand, và tập trung vào phát triển thị trường nước ngoài.

Khi A2 mở rộng kinh doanh, sự đối lập chống quảng cáo của Công ty A2 đã diễn ra trên các phương tiện truyền thông. Dairy Australia, Hiệp hội quốc gia về ngành sữa của Úc, và các đối thủ cạnh tranh thị trường như Parmalat luôn khẳng định rằng không có bằng chứng nào cho thấy các protein A1 nguy hiểm và cảnh báo rằng những lời chỉ trích về sữa thông thường đang phá huỷ toàn bộ ngành sữa.

Năm 2006, Tổng công ty A2 đã có đủ cơ sở để mua lại A2 Úc từ Fraser & Neave. [34] Năm 2006, Công ty A2 đã mất khoảng 1 triệu USD, sau khi đã mất 9 triệu USD vào năm trước, nhưng doanh thu đã tăng lên gấp đôi. Trong năm đó, các cổ đông được cảnh báo  là  không mong đợi lợi nhuận trong ba năm tiếp theo.

Xuất bản một cuốn sách “Tội ác của loại sữa  đó” (Devil in the Milk) của Keith Woodford, về sữa A1 và các nguy cơ cho sức khoẻ, đã thúc đẩy việc bán sữa A2 ở Úc và New Zealand . Điều này đã thúc  Cơ quan an toàn thực phẩm New Zealand đề nghị một lần nữa xem xét khoa học nhằm giải quyết mối quan tâm của người tiêu dùng rằng liệu sữa A1 có thể có hại. Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) đã được yêu cầu thực hiện việc rà soát như thế. Báo cáo của EFSA, phát hành vào năm 2009, đã phát hiện ra rằng "mối quan hệ nhân quả không được xác định giữa chế độ ăn kiêng của BCM7 (beta-casomorphin-7), các peptide liên quan hoặc các tiền chất protein có thể và các bệnh không lây nhiễm".

Thương mại đã phát triển, và đến năm 2010 khoảng 40.000.000 lít sữa với protein chủ yếu là A2 đã được sản xuất từ 12.000 con bò được chứng nhận A2 ở Úc, với sữa được chế biến tại bốn nhà máy ở Victoria, New South Wales và Queensland, và sữa chua làm với sữa chủ yếu là protein A2 đã có mặt trên thị trường Úc vào tháng 4 năm 2010.

Vào tháng 2 năm 2011, Tập đoàn A2 tuyên bố đã đạt được lợi nhuận trong nửa năm đầu tiên; trong sáu tháng kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2010, đã thu được khoản lợi nhuận ròng $ 894 000, hoặc 17 xu /cổ phiếu. Vào tháng 12 năm 2012, Tổng công ty A2 tuyên bố sẽ cố gắng huy động 20 triệu USD và niêm yết trên hội đồng quản trị thị trường chứng khoán New Zealand và sử dụng các quỹ này để phát triển công thức sữa bột trẻ sơ sinh của Trung Quốc và các doanh nghiệp sữa Anh quốc. Nó được liệt kê vào tháng 3 năm 2013.

A2 đã đổi tên thành Công ty TNHH Sữa a2 vào tháng 4 năm 2014, và vào thời điểm đó có khoảng 8% thị phần của thị trường sữa ở Úc.

Các sản phẩm khác được sản xuất sử dụng sữa với protein A2 chủ yếu đã được phát triển bao gồm kem đặc, sữa bột cho trẻ sơ sinh, kem, sữa chua và các sản phẩm từ sữa khác.

Vào năm 2014, Lion, một công ty nước giải khát và thực phẩm hoạt động ở Úc và New Zealand và sở hữu bởi Kirin, đã tái sản xuất sản phẩm sữa "Pura" với một nhãn hiệu mới: "Tự nhiên chứa protein A2".

Công ty sữa a2 thông báo vào tháng 11 năm 2014 rằng họ đã bắt đầu quá trình đăng ký niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Australia để mở sổ đăng ký cho các nhà đầu tư Úc và tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu. Công ty cho biết họ dự kiến ​​sẽ hoàn thành vào tháng 3 năm 2015.

6.2.            Hoa Kỳ

Tháng 8/2003, Tập đoàn A2 độc quyền sáng chế và quyền thương hiệu cho tập đoàn Ideasphere Incorporated (ISI) có trụ sở tại Hoa Kỳ để tiếp thị sữa với các sản phẩm protein A2 chủ yếu ở Bắc Mỹ. ISI đã trả khoản phí giấy phép A2 500.000 đô la vào cuối năm 2004. ISI đã mua lại Twinlab vào tháng 9/2003, tiếp theo là một chuỗi các vụ mua lại khác trong thị trường bổ sung chế độ ăn uống. Tháng 6 năm 2005, ISI và A2 đã đồng ý thành lập liên doanh, Công ty TNHH sữa A2; A2 đầu tư 400.000 USD và ISI đã chỉ định hợp đồng li-xăng cho công ty mới.

Tháng 4 năm 2007, công ty A2 đã thông báo một thỏa thuận trong đó liên doanh sẽ cấp giấy phép cho Công ty Original Foods, người sẽ xây dựng thương hiệu sữa với sản phẩm protein A2 chủ yếu, và trong đó sản phẩm sẽ được bán ở một số bang miền Trung Tây thông qua Hy- Chuỗi siêu thị Vee.

Trong báo cáo thường niên năm 2009 của công ty A2, công ty thông báo rằng liên doanh đã giành lại tất cả các quyền đối với thị trường Hoa Kỳ thông qua thỏa thuận với Công ty Original Foods và rằng "Thị trường sữa của Mỹ vẫn có sức cạnh tranh cao và vẫn tiếp tục là một thách thức lớn. Trong năm 2010, Tổng công ty A2 đã mua lại tất cả nhưng ít hơn 1% cổ phần của ISI trong liên doanh. 

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Thiết kế website