Tin KHCN

Nguồn gen vật nuôi bản địa Việt Nam: Trâu và Bò

Nguồn gen vật nuôi bản địa Việt Nam: Trâu và Bò
Trâu Việt Nam là loài trâu đầm (Swamp Buffaloe). Là loài vật quan trọng của nông dân và xã hội: cung sức kéo và một lượng thịt đáng kể. Cách đây 10 năm thịt trâu thường khó bán vì bị cho là “thịt lạnh”, nên phải bán giả “thịt bò” – nhưng nay đã không thế thậm chí được gắn với mác “đặc sản thịt trâu”. Theo Cục chăn nuôi, năm 2007 đàn trâu sản ra 67,5 ngàn tấn thịt (Xem Phụ lục 8). Một ưu thế của trâu là thích nghi với nhiều vùng khí hậu và tận dụng thức ăn cỏ - phế phụ phẩm nông nghiệp rất tốt.

1. Tập đoàn trâu

Trâu Việt Nam là loài trâu đầm (Swamp Buffaloe).

Là loài vật quan trọng của nông dân và xã hội: cung sức kéo và một lượng thịt đáng kể. Cách đây 10 năm thịt trâu thường khó bán vì bị cho là “thịt lạnh”, nên phải bán giả “thịt bò” – nhưng nay đã không thế thậm chí được gắn với mác “đặc sản thịt trâu”. Theo Cục chăn nuôi, năm 2007 đàn trâu sản ra 67,5 ngàn tấn thịt (Xem Phụ lục 8). Một ưu thế của trâu là thích nghi với nhiều vùng khí hậu và tận dụng thức ăn cỏ - phế phụ phẩm nông nghiệp rất tốt.

88% số  trâu tập trung ở Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Bắc; còn lại tập trung ở Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ.

Đàn trâu từ năm 1996 đến 2007 giao động từ 2,9 đến 3 triệu (Xem Phụ lục 8). Riêng trâu cày kéo có xu hướng giảm do sức cày kéo được hỗ trợ bằng phương tiện giới hóa tăng lên. Tuy nhiên tầm xa xu hướng giảm khó có thể sâu hơn, bởi Việt Nam có nhiều vùng đất canh tác hẹp, không bằng phẳng khó cày bừa bằng máy móc như ở miền núi chẳng hạn.

Trâu Việt nam từng được phân làm hai theo tầm vóc: trâu ngố (to), trâu dé (bé) và trâu thường (trung bình). 

Trong phạm vi dự án “Phát hiện nhanh các giống vật nuôi tiềm ẩn ở Việt nam (2008-2010)” do UNDP tài trợ, chúng tôi phát hiện thêm hai quần thể trâu có ngoại hình, tập tính, môi trường sống... khác nhau, đó là trâu Langbian (Đà lạt) và Hạ lang (Cao bằng).

  • Trâu Langbian:  Tại Lâm đồng có đàn trâu Langbian – được người thiểu số Chil nuôi với mục đích tâm linh, không bán / giết thịt. (Hiện tại người mua thịt cũng được, nhưng không được phép giết trước mặt dân bản xứ này). Trâu được nuôi thả rông trong các cánh rừng thông Đà lạt. Đây có thể là giống trâu to con nhất nước. Bản tính: hung dữ.
  • Trâu Hạ lang (Cao bằng). Có thể đó là dạng trâu nhỏ con nhất. Có những nét đặc trưng riêng: như khoang cổ.
  • Tỉnh Tuyên quang cũng cho rằng quần thể trâu của họ nên được xem là loại riêng vì tầm vóc lớn. (Xem Hồ sơ Nguyễn Đại Thành, 2006),  Hàng năm có tổ chức lễ hội trâu ở đây.

Một nghiên cứu di truyền phân tử hiếm hoi về trâu Việt nam đã được Dự án Biodiva tiến hành năm 2005-2007 (C.Berthouly et al, 2008). Kết quả cho thấy, đàn trâu nuôi tại Hà giang có sự đa dạng (thể hiện qua tần số dị hợp tử mong đợi và allen hiệu quả) cao hơn trâu Surin nhưng thấp hơn giống trâu Nam Á. Sự khác nhau di truyền ở các nhóm trâu từ các huyện ở Hà giang là 0,57%, trong khi đó khác nhau giữa mẫu trâu gom 3 tỉnh Hà giang - Nghệ an -Tây ninh là 0,74%.  

Chưa có một ý định nào để nghiên cứu các gen đặc hữu nào trên các giống trâu ở VN. Trong lúc đó trên các giống trâu tại Ấn độ các nhà khoa học Cục Bảo tồn NGVN Ấn độ đã miêu tả các gene candidate tuyến sữa của trâu (mammary gland) và các gene liên quan đến chống bệnh, như  Leptin, Mammary Derived Growth Inhibitor, osteopontin và lactoferin.

Gần đây có các dự án nghiên cứu và phát triển trâu nội:

“Chọn lọc, nhân thuần nâng cao năng suất và chất lượng thịt của trâu Việt Nam” (2006-2010) do Trung tâm NC Trâu và Ngựa Bá vân (Viện chăn nuôi) thực hiện với kinh phí hơn 1 tỉ đồng.

 “Nghiên cứu một số giải pháp tổng hợp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi trâu ở Việt Nam” (2012-2016) do Viện chăn nuôi thực hiện với kinh phí 2,2 tỉ.

Nguy cơ lai tạp:

Đàn trâu tại các tỉnh phía Nam gần với biên giới Cămpuchia có thể bị lai tạp với trâu cùng giống trâu đầm nhập trực tiếp từ nước này, thậm chí từ Thái lan, Myamar theo tuyến buôn lậu xuyên quốc gia mà báo chí Thái lan đã nêu và các lái buôn Việt nam đã từng đến các chợ biên giới Miến điện – Thái lan để mua. Tại các đường biên giới như Simakai (Lào cai), trâu Trung quốc cũng được nhập lậu qua đường tiểu ngạch.

Trâu cũng lẫn lộn các dòng. Thí dụ như trâu Tuyên quang – vốn được tỉnh này cho là giống / dòng riêng vì to con hơn hẳn trâu khác. Điều này cũng đúng với những thông tin và tài liệu xưa nay. Tuy nhiên từ khi có hội thi trâu có giải thưởng thì việc mua trâu nơi khác về để nuôi tạm và thi đấu cũng đã xẩy ra. Và đương nhiên “giống” trâu Tuyên quang không còn nguyên nữa.

Trâu VN cũng được lai với trâu Murrah, Nili Ravi (Ấn độ), nhưng số lượng không nhiều lắm.

Nhìn chung trâu đầm Việt nam là “an toàn”. Chúng ít chết rét hơn bò trong những vụ đông. Nhưng nguy cơ đồng huyết cũng khá cao ở một số vùng chỉ nuôi trâu sinh sản.

Thách thức:

Một thách thức trực tiếp là thịt trâu được nhập từ Ấn độ - quê hương của rất nhiều giống trâu có chất lượng cao như Murrah, Nivi- được nhập bán chủ yếu tại Miền nam; trâu thịt được nhập từ Campuchia với số lượng ... và được mổ thịt tại các lò mổ tư nhân tại huyện Đức hòa (Long an) với giá thường rẻ hơn trâu VN.

Trâu VN thường là trâu cày kéo, ít được vỗ béo trước lúc giết thịt nên chất lượng thường kém hơn trâu ngoại.

Việc thâm canh nuôi trâu thịt là điều khó xẩy ra ở Việt nam do giá thành sẽ cao.  

2. Tập đoàn bò bản địa

Số lượng đàn bò Việt nam tăng đều và nhanh từ 3,8 triệu con năm 1996, đến 6,7 triệu con vào năm 2007. Đàn bò năm 2007 gồm 1,77 triệu bò Laisind, 98,7 ngàn bò sữa, 1,72 triệu bò cày kéo và  3,14 triệu bò thịt.

Bò ngoại nhập có khá nhiều: bò sữa là bò Holstein Friz từ các nước Mỹ, Cuba, Hà lan. Pháp, Nhật; bò kiêm dụng thịt-cày kéo như Sindh (Ấn độ, Pakistan), Brahman (Cuba). Charolais, Hereford...  `

Một số giống bò không rõ giống được nhập qua các đường tiểu ngạch qua các cửa khẩu Lào, Campuchia có thể từ Thái lan, Miến điện và Ấn độ. Những điều tra của chúng tôi cho thấy, đa phần trâu bò qua đường biên Tịnh biên (An giang), Đức hòa (Long an), Quảng trị, Hà tĩnh, Nghệ an, Phần lớn được mổ thịt, tuy nhiên có một tỉ lệ được nuôi tại khu vực  biên giới và phát tán đi cả nước.

Có ba giống nội: bò Vàng, bò H’mông và bò U đầu rìu. Số lượng của ba giống này không được thống kê, nhưng theo số liệu 2007 thì chúng nằm trong tổng của 4,86  triệu bò cày kéo và  bò thịt. Số lượng bò nội có xu hường giảm đi do việc lai với các giống Sind hoặc Brahman theo chủ trương “Sind hóa” hoặc “Brahman hóa”. 

Một nghiên cứu gần đây nhất về khoảng cách di truyền của Phạm Doãn Lân (2012) trên các nhóm bò Việt nam: Bò H’mông (Hà giang), bò U đầu rìu (Nghệ an) với bò vàng Lạng sơn, Thanh hóa, , Phú yên và Bà rịa. Kết quả cho thấy khối lượng theo thứ tự nhỏ dần: bò H’mông và U đầu rìu, bò vàng Nghệ an, Phú yên, Lạng sơn, Bà rịa-Vũng tàu và Thanh hóa. Ngoại hình của chúng không khác nhau nhiều lắm. Bò H’mông có máu 56% từ loại bò châu Âu (Bos Taurus) – không có u và 46% từ dòng bò Ấn độ (Indicus) – có u. Tác giả cho rằng bò H’mông có thể xuất phát từ Trung quốc. Còn các quần thể bò vàng Lạng sơn, Thanh hóa, U đầu rìu (Nghệ an), Phú yên và Bà rịa đều có nguồn từ bò Bos Indicus, giữa chúng không có sự xa nhau về khoảng cách di truyền mặc dù khác nhau về di truyền và có thể xem là một giống. Giữa các nhóm bò trên không khác nhau nhiều về tần số allen và kiểu gen có lợi liên quan đến tính trạng mỡ dắt thyroglobulin. Bò Phú yên và Hà giang có tần số allen và kiểu gen có lợi DGAT1 liên quan đến tích mỡ ở sữa và cơ cũng như gen CAPN1 liên quan đến độ mềm của thịt - cao hơn các nhóm khác.

Nghiên cứu các gen chức năng (functional) / đối tượng (candidate) và các năng lực khác của các giống bò bản địa VN.

Ngoài nghiên cứu nói trên đến nay, chưa có một ý định nào để nghiên cứu các gen đặc hữu nào trên các giống bò ở VN. Trong lúc đó trên các giống bò có nguồn gốc bò Bos Indicus các nhà khoa học Cục Bảo tồn NGVN Ấn độ đã phân lập được các loci chức năng quan trọng ảnh hưởng đến các tính trạng sản xuất sữa như butyrophilin 1,3; beta latoglobulin, prolactin được phân tích….Đã nghiên cứu interleukins bovin ở các giống bò ấn độ nhằm xem xét sự tiết chất này.

So sánh với các giống bò nội với các giống bò ngoại / bò lai nuôi thịt tại Việt nam, ta thấy:

  • Tầm vóc, sinh trưởng của bò nội thấp hơn.
  • Số lượng thịt sản xuất ít hơn.
  • Khả năng nuôi bán thâm canh và quảng canh của bò nội cao hơn do chịu đựng tốt hơn với môi trường không thuận lợi.
  • Chất lượng thịt của bò nội: đến nay chưa có những đánh giá chính thức, cũng chưa sự hình thành sự lựa chọn thịt bò “nội / ngoại” như thể thịt gà. Nhưng bò thịt nhập từ các nước như Úc, Canada... không nhận được sự phê phán nào từ thực khách. 
  1. Bò vàng:

Trước đây là giống bò chiếm tỉ lệ lớn nhất và có mặt ở tất cả các vùng miền ở Việt nam.

Bò Vàng Việt nam theo Lê Viết Ly (1998) có thể phân ra nhiều nhóm theo địa phương: Thanh hóa, Nghệ an, Lạng sơn, Phú yên, Bà rịa-Vũng tàu do những vùng này có khí hậu, sinh thái khác nhau, bò được chọn lọc thích nghi với các vùng đó, có tầm vóc, sức sinh trưởng và thậm chí ngoại hình khác nhau.

Gần đây không có những điều tra về giống bò này. Một số nơi chúng tôi đã nghiên cứu cho thấy tình hình chung như sau:

Tại các vùng cao hẻo lánh (như Kontum) hoặc khó khăn về thức ăn và khí hậu khắc nghiệt (như Quảng nam và Quảng bình) hoặc người thiểu số sống (như huyện Sông hinh Phú yên –thụ tinh nhân tạo kém và người dân quen thả rông) bò vàng vẫn tồn tại “nguyên bản”. 

Tại Đồng nai đàn bò trước còn 120 000 nay còn 75 000 do đất được dùng để trồng trọt. Trước đây thời Pháp bò đã được “U hóa” nên bò vàng không còn nhiều. 60% bò được nuôi trại tập trung.

Tại Xuyên mộc (Bà rịa Vũng tàu): Chỉ thấy một số con tại một số xã của người dân tộc thiểu số.

Nhìn chung được chăn thả (rừng núi như Quảng nam), chăn dắt như ở các tỉnh đồng bằng.

Nguy cơ mất giống: Tuy nhiên nguy cơ “Sind hóa” và Zebu hóa rất cao. Những vùng còn bò vàng thuần rất ít. Tại huyện Sông Hinh, Phú yên nhiều đàn bò vàng còn nguyên. Lý do, mạng lưới thụ tinh nhân tạo kém, người dân tộc không có tiền chi trả cho thụ tinh nhân tạo. Bò đực giống này nhỏ con nhanh nhẹn nên phát hiện và nhảy giống nhanh hơn bò đực Sind to con, chậm và dễ làm cho bò cái vàng sợ không giám tiếp xúc. 

Tại huyện Tri tôn (An giang) chúng tôi đã kiểm tra lại giống bò Bảy núi. Tuy nhiên thực ra bò này là bò lai hoặc Zebu được nhập từ Cămpuchia.

Bò được nuôi tại vùng Vườn quốc gia Phước bình (Ninh thuận) cũng được lai với bò rừng vùng này.

 

Bò tót và bò rừng Việt nam vẫn đang còn trong tự nhiên ở các vùng sâu như rừng quốc gia Cát tiên, Vũ quang, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea sô. Ở các vùng này người dân vẫn quen thả rông bò vào rừng trong nhiều tháng. Tuy nhiên đến nay cũng chưa thấy các báo cáo nào về con lai, duy nhất trường hợp tại Ninh thuận.

Nguy cơ giảm sút số lượng: dễ chết trong mùa rét. Các bệnh LMLM đe dọa.

Nguy cơ giảm sút đa dạng: Đực giống được nuôi ít, khiến suy giảm sự đa dạng và đối mặt với nguy cơ cận huyết.

Đã có những dự án nhỏ như Lai châu khuyến khích / tổ chức nuôi bò vàng địa phương để lấy thịt (Tuy nhiên không giám chắc là bò vàng hay bò H’mông vốn rất phổ biến ở vùng này và đàn bò được dùng để vỗ béo ở đây có thể đã là con lai).

Cần giám sát chặt chẽ đàn bò này, và nên tổ chức bảo tồn tại một số địa điểm có khả năng như Sông hinh (Phú yên).

  1. Bò U đầu rìu

Có mặt khá nhiều ở các huyện Nam đàn, Thanh chương (Nghệ an) và rải rác ở các huyện xung quanh và thậm chí cớ ở tỉnh Hà tĩnh. Ước tính đến 10 000 con.

Thích hợp với vùng khô hạn gió Lào.

Hiện đang bị “Sind hóa” tương đối mạnh.

Cũng như bò nội khác, trước mắt giống bò U đầu rìu vẫn ở trạng thái “an toàn”. Nhưng cần tăng cường hệ thống đực giống và bảo tồn được một cơ số nhất định trước khi chúng bị tạp giao với các giống khác.

Hiện nay đang triển khai một dự án “Khai thác nguồn gen vật nuôi: Bò U đầu rìu” do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học Công nghệ Nghệ An thực hiện từ 2012 đến 2016 tại Nghệ an với kinh phí: 3,8 tỉ đồng.

  1. Bò H’mông:

Được Viện chăn nuôi phát hiện năm 1998.

Có mặt ở vùng cao (lạnh) như Hà giang, Cao bằng, Bắc cạn, Nghệ an, Tuyên quang, Yên bái, Lai châu, Sơn la... Đây là loại bò to con, được nuôi “nhốt” là chủ yếu. Hiện nay bò này bán được giá, các chợ khá nổi tiếng như Mèo vạc, Đồng văn (Hà giang), Bắc hà (Lào cai).

Đây là bò có tầm vóc to nhất các giống nội địa Việt nam và có ngoại hình gần với bò Sindh với u và yếm phát triển.

Số con lai giữa bò H’mông với bò vàng cũng nhiều. Cần có những chọn lọc cũng như xác định và chọn lọc những đàn có tỉ lệ bò H’mông tốt nhất.

Hà giang và Viện chăn nuôi trong phạm vi dự án Biodiva (Viện Chăn nuôi VN và CIRARD, Pháp) đã xây dựng trạm lấy tinh tại huyện Quản bạ (Hà giang) để thụ tinh cho bò cái các vùng lân cận nhằm tăng khả năng sinh trưởng. Tại trạm này có 2 đực giống. Ứng dụng thụ tinh nhân tạo ở các vùng cao rất hạn chế do đường sá khó đi lại. Tuy nhiên tháng 10 năm 2012 trạm này được lệnh giải tán. Một số đực cũng được đưa về Viện chăn nuôi để lấy tinh.

Từ 3/2012 thịt bò H’mông đã được giới thiệu tại Hà nội. Liên kết nông dân nghèo nông thôn với siêu thị và các kênh phân phối chất lượng cao  Superchain/ Malica/ IFAD. Dự án DBRP Cao Bằng (vốn vay ưu đãi của IFAD) triển khai 5 chuỗi giá trị, trong đó có chuỗi giá trị bò, tại trên 50 xã thuộc 10 huyện của tỉnh Cao Bằng. Buổi giới thiệu sản phẩm và tổ chức nếm thử thịt bò Mông tại siêu thị BigC đã có sự tham dự của nhiều hộ chăn nuôi bò H’Mông và các nhà hàng nổi tiếng ở Hà Nội.  Ông Alain Noguern, Giám đốc Siêu thị Big C đánh giá, thịt bò H’Mông hơn hẳn tất cả các loại thịt bò khác cả về chất lượng và màu sắc, mẫu mã. Ông mong muốn có được thường xuyên lượng thịt bò cao cấp đặc biệt này.

Các chợ có bán: Lò mổ Cao Bằng - 266 Thái Hà - Siêu thị Big C, chợ phiên Tây Hồ. Từ 1-3-2013 thịt bò này phải ngưng bán tại các chợ trên do được xuất đi Trung quốc nhiều do giá bán cao hơn thị trường trong nước.

Đã có một trang Web chuyên về bò H’mông do Hiệp hội bò H’mông Cao bằng sáng lập. (Xem: http://hmongbeef.vn/index.php?com=contents&viewtype=article&item=101).

Đến nay có ít nhất 4 dự án đã và đang được triển khai để khai thác giống bò này, như:

  • “Ứng dụng tiến bộ Khoa học Công nghệ phát triển giống bò vàng địa phương (bò H’mông) tại huyện Kỳ Sơn” của Nghệ an năm 2011 và 2012 (Kinh phí của Nghệ an) với kinh phí 650 triệu.
  • “Khai thác và phát triển nguồn gen giống bò H'Mông”, do Trường Đại học Thái nguyên thực hiện với kinh phí 5 tỉ từ 2011 đến 2015, nguồn từ Bộ Khoa học và Công nghệ.
  • “Nghiên cứu một số giải pháp KHCN phục hồi và phát triển đàn bò H'Mông” của tỉnh Bắc Kạn, kinh phí: 1,5 tỉ. Thời gian: 2011-2012.
  • Dự án Biodiva nghiên cứu về di truyền và khai thác tinh của giống bò này tại huyện Quản bạ (Hà giang) (Giai đoạn 2005-2007).

Nguy cơ giảm sút số lượng: dễ chết trong mùa rét. Thiếu thức ăn về mùa đông. Các bệnh LMLM đe dọa.

Nguy cơ giảm sút đa dạng: Hiện nay bò đực được vỗ béo để bán, vì vậy số lượng đực giống nhiều nên vẫn tránh được đồng huyết và qua đó giảm bớt nguy cơ mất sự đa dạng. Tuy nhiên hiện nay do việc nuôi nhốt nhiều, không thả rông như trước do các vùng đất đai, rừng đã phân cho các hộ quản lý, chủ nhân không muốn cho bò khác vào nên vẫn có nguy cơ cận huyết. Điều này chúng ta có thể thấy được tại các huyện thuộc tỉnh Hà giang và Tuyên quang.

Nguy cơ lai tạp: Hiện bò Trung quốc (bò lai) đã được đưa về (Mèo vạc) để lai với bò cái H’mông. Cần giám sát chặt chẽ, khai thác tốt hơn và tăng số lượng đực. Cần ngăn chặn bò Trung quốc về.

Giải pháp để nâng tầm vóc và năng suất: chọn lọc những đực giống tốt đưa về cho dân. 

Để khái thác cần đảm thức ăn mùa đông (chế biến), hoặc những giải pháp công nghệ: động dục đồng pha để có thể vỗ béo trong mùa hè có dư dồi thức ăn.

Thí dụ: toàn tỉnh Lào Cai hiện có khoảng 125.000 con trâu, 17.000 con bò. Hai vụ rét năm 2008 và 2011 đã làm gần 34.000 con trâu bò bị chết rét và chết đói. (Xem: Lào Cai đưa gia súc xuống núi tránh rét – VOV - 10/01/2013)

Cũng như bò U đầu rìu, trước mắt là an toàn nhưng cần tăng cường hệ thống đực giống, giữ được một cơ số nhất định trước khi chúng bị tạp giao với các giống khác.

Đối với trâu bò nói chung, việc thực thi cam kết WTO sẽ gây khó khăn cho bò nội địa. Theo Trung tâm WTO (2012) đánh giá thì “Nhập khẩu thịt bò từ Úc, New Zealand, Mỹ có khả năng sẽ tăng trong thời gian tới. Nguyên nhân chính một phần do giảm thuế, nhưng phần lớn là do chất lượng cao và đảm bảo VSATTP của các sản phẩm nhập ngoại sẽ làm tăng nhu cầu tiêu thụ”.

Thuế nhập thịt không xương sẽ giảm từ mức 20% xuống 14%;  trâu bò sống / nuôi thịt có thuế suất thấp.

Hiện nay trên mạng “Thịt bò nhập khẩu” http://thitbonhapkhau.com/TrangChu.aspx có đăng tải các loại thịt bò nhập từ Mỹ đến Australia với đủ loại Thí dụ như   Ba chỉ bò Mỹ,   Nạc vai bò Mỹ, Thịt bò Kobe Mỹ,   Sườn bò rút xương,  (Hàng Choice - Prime),   Lõi bắp hoa bò Mỹ,   Thăn bò hình chữ T Mỹ,   Bắp bò Mỹ,   Lõi vai - Làm bít tết,   Gầu bò Mỹ,   Sườn bò rút xương Mỹ,   Sườn cắt 1cm, 2cm,   Thăn nõn,   Thăn vai bò Mỹ…. Giá bán giao động từ 250 ngàn đồng (Ba chỉ bò Mỹ) đến 850 ngàn đồng (Sườn bò rút xương) (trừ thịt bò Kobe Mỹ).

Nhưng mới đây nhất, là việc nhập khẩu bò từ nước ngoài như bò Australia giá rẻ, với ước tính 40 000 đồng / kg với tỉ lệ thịt xẻ 45%. Trong lúc đó giá 1 kg thịt bò   hơi ở VN không ít hơn 65 000 đồng với tỉ lệ thịt xẻ 35%. Xem: http://thitbonhapkhau.com/TrangChu.aspx http://vneconomy.vn/20121003053636235P0C19/viet-nam-sap-nhap-khau-1500-dau-gia-suc-tu-australia.htm

http://www.hoinongdan.org.vn/index.php/kinh-te/trong-nuoc/3628-b%C3%B2-n%E1%BB%99i-%C4%91%E1%BB%91i-m%E1%BA%B7t-b%C3%B2-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u.html

(Tác giả: Võ Văn Sự. Phạm Công Thiếu, Hoàng Văn Tiệu)

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
 
Thiết kế website