Bản tin chăn nuôi

Nguồn gen loài chim thuần hóa nói chung và cụ thể về gà trên thế giới

Nguồn gen loài chim thuần hóa nói chung và cụ thể về gà trên thế giới

Số lượng các loài trong bộ chim

5 loại vật nuôi lớn nhất thế giới, đó là bò,  cừu, dê, lợn và chim.

Loài chim có: Gà, vịt, gà tây, ngỗng, ngan, chim, gà gô, trĩ,  công, chim cút, bồ  câu.

Bảng sau cho thấy số lượng các giống ở các khu vực chính.

Loài

Châu Phi

Châu Á

Châu Âu và Cáp ca zơ

Mỹ La tin và Caribe

Trung Cận đông

Bắc Mỹ

Đông Nam Thái bình dương

78

93

86

70

50

100

85

Vịt nhà

32

61

50

33

17

0

46

Ngỗng nhà

16

39

61

21

17

50

8

Ngan

16

39

20

18

17

0

62

Gà sao

28

18

11

9

8

0

0

Gà gô

4

7

7

0

0

0

0

Trĩ

0

7

9

6

0

0

0

Chim cút

7

39

14

6

0

50

0

Công

0

0

0

3

0

0

0

Chim bồ câu

10

21

9

6

17

0

15

Chim nhạn

0

4

0

0

0

0

0


  • Lưu ý: Đây là số lượng thống kê từ các báo cáo của nhiều nước gửi cho FAO

Tỉ lệ các loài chim

 Các loài có 50 giống được tách riêng, còn các loài còn lại được gộp chung

Là loài được thuần hóa lâu đời nhất trong nhóm chim

Tuy nhiên hầu hết các giống gà quan trọng được tạo ra trong nữa sau thế kỷ 19, trong đó có White Leghorn, New Hampshire và Plymouth Rock. White Leghorns có nguồn từ các loại gà Italia và đến nước Mỹ năm 1820 và tại đây chúng được chọn theo hướng chuyển trứng.  Nhưng sau đó chúng lại được đưa quay về châu Âu sau thế chiến lần 2. Chúng được chọn thành 5 hướng sư dụng: chuyên thịt, chuyên trứng, kiêm dụng, gà chọi và gà cảnh. Tại miền Bắc, các dòng thương mại chiếm ưu thế trong việc sản xuất trứng và thịt, trong lúc đó các giống gà bản địa bị hạn chế vào mục đich giải trí.  Ngược lại tại miền Nam, các giống bản địa tiếp tục đóng vai trò quan trọng; và trong một số trường hợp chúng chiếm đến 70-80% đàn gà (Guèye, 2005; FAO, 2006). Các loại gà nuôi phục vụ sở thích khá khác nhau, nhưng không có nghĩa là quá đa dạng về mặt di truyền. (Hoffmann et al., 2004).  Điều này có lẽ cũng đúng với các giống gia cầm bản địa ở các nước đang phát triển (FAO, 2006).

Các giống gà  ở Bắc Mỹ

Gà được đưa vào Bắc Mỹ qua ngà Tây Ban nha và sau đó là châu Âu,  từ những năm 1500. Các loại gà này dần dần được chọn lọc… thành các giống khác nhau. Các giống gà Bắc Mỹ nay được xem là  3 trong 5 nhóm đầu bảng lan rộng  trên thế giới và có 7 trong 67 giống trong ít nhất 5 nước có báo cáo cho FAO. 3 giống đầu bảng đó là Rhode Island Red, Plymouth Rock và New Hampshire. Tất cả các giống này đều là giống kiêm dụng thịt – trứng được phát triển ở Tây bắc nước Mỹ.

Các giống gà châu Âu

Các giống gà có nguồn gốc chính ở châu Âu chiếm 26 trong 67 giống gà được ít nhất 5 quốc gia báo cáo cho FAO. Leghorn  là giống phổ biến nhất; nó được tìm thấy trong 51 quốc gia, và đứng thứ hai tổng thể. Đây cũng là một giống  đóng góp quan trọng đối với các dòng gà thương mại. Giống gà phổ biến thứ 2 ở châu Âu là Sussex cả Vương quốc Anh, được tìm thấy ở 17 quốc gia (đứng thứ 10 trong tổng số).

Các dòng gà thương mại

Các dòng  gà thương mại phân bố  rộng rãi nhất trên toàn thế giới, gồm19 trong số 67 giống hàng đầu. Vì các công ty tạo nên các dòng gà thương mại này thường  giữ bí mật thông tin, nên chúng ta không có thông tin đầy đủ về nguồn gốc. Tuy nhiên, hầu hết chúng có từ  các giống White Leghorn, Plymouth Rock, New Hampshire và White Cornish (Campbell và Lasley, 1985). Các giống thương mại là sản phẩm của một số ít các công ty xuyên quốc gia có trụ sở tại Tây Bắc Âu và Hoa Kỳ. Đã có sự củng cố hơn  trong ngành công nghiệp này trong những năm gần đây. Hiện tại, chỉ có hai công ty chăn nuôi chính (Erich Wesjohann có trụ sở tại Đức và Hendrix Genetics từ Hà Lan) chiếm ưu thế trên thị trường gà đẻ quốc tế lớp, và ba nhà lai tạo chính (Erich Wesjohann, Hendrix Genetics và Tyson, một công ty của Hoa Kỳ) chiếm lĩnh thị trường gà thịt. Các công ty duy trì nhiều dòng giống riêng biệt (Xem Nói thêm), và các đơn vị khác nhau trong công ty thậm chí có thể cạnh tranh với nhau để giành thị phần (Flock và Preisinger, 2002; trang web của công ty).

Nói thêm: Ngành nhân giống gà:

Các hãng nhân giống gà đã phát triển một loạt các dòng, mỗi dòng có một tập hợp các đặc tính mong muốn, chẳng hạn như khả năng đẻ trứng, tỷ lệ tăng trưởng cao. Những dòng này sau đó được lai với nhau, lại tạo thêm ra nhiều dòng lai để sản xuất trứng hoặc gà thịt. Các hãng này bảo vệ chặt chẽ các đàn gà giống thuần. Phát triển được các dòng thuần khiết với các đặc tính mong muốn đòi hỏi kinh phí lớn và là tốn thời gian; Những ai mới muốn tham gia lĩnh vực kinh doanh này sẽ phải đầu tư một khoản tiền lớn để đặt chân vào thị trường, vì vậy sẽ là rẻ hơn nếu dựa vào các nhà cung cấp hiện có. Cáchãng nhân giống lớn thiếu sự hiện diện của các đối tác bản địa và chuyên môn để thâm nhập thị trường mới, và vì vậyhọ  thường cấp phép cho các công ty địa phương để phân phối sản phẩm. Nguồn: Mathias và Mundy (2005)

Các giống gà ở vùng khác

The most widespread breed not included in the categories above is the Aseel, which hails from India, and is reported from 11 countries, ranking only 17th in the world. It is followed by several Chinese breeds: the Brahma and Cochin (which were developed further in the United States of America) and the Silkie (a breed with fur-like feathers). Other Asian breeds are considered as “ornamental” in the West: Sumatra (from Indonesia, eight countries), Malay Game and Onagadori (a long-tailed breed from Japan). Also worth mentioning is the Jungle Fowl (five countries) from Southeast Asia, which is the ancestor of modern chickens. The only Australian breed in the top 67 breeds is the Australorp, derived from the Black Orpington, a British breed. Reported from 16 countries, this breed ranks 12th overall in terms of distribution. Its claim to fame is that it holds the world record for egg-laying – a hen once laid 364 eggs in 365 days

Các giống gà phổ biến nhất không có trong các loại được nói trên là Aseel, đến từ Ấn Độ, và được báo cáo từ 11 quốc gia, đứng thứ 17 trên thế giới. Tiếp theo đó là một số giống từ Trung Quốc: Brahma và Cochin (mà đã được phát triển hơn tại Hoa Kỳ) và gà ác (Silkie)  (có lông tơ). Giống gà châu Á khác được coi là gà "cảnh" ở phương Tây, là  Sumatra (Indonesia, tám nước báo cáo), Malay Game và Onagadori (một giống đuôi dài từ Nhật Bản). Cũng đáng nhắc đến là gà rừng - Jungle Fowl (báo cáo từ năm quốc gia) từ khu vực Đông Nam Á, đó là tổ tiên của gà hiện đại. Các giống gà duy nhất ở Úc trong 67 giống hàng đầu là Australorp, xuất phát từ Black Orpington, một giống của Anh. Báo cáo từ 16 quốc gia, loài này đứng chung 12 về phân bố. Chúng nổi tiếng vì được cho là đang giữ kỷ lục thế giới về đẻ trứng - đẻ 364 trứng trong 365 ngày.

Võ Văn Sự dịch. 1/1/2017. Nguồn: FAO, 2007.  THE STATE OF THE WORLD’s COMMISSION ON GENETIC RESOURCES FOR FOOD AND AGRICULTURE FOOD AND AGRICULTURE ORGANIZATION OF THE UNITED NATIONS Rome, 2007. ANIMAL GENETIC RESOURCES FOR FOOD AND AGRICULTURE

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
Thiết kế website