Tin KHCN

Loại thải: định nghĩa, ý nghĩa, phân loại, phương pháp ước tính trong ngành chăn nuôi bò sữa

Loại thải: định nghĩa, ý nghĩa, phân loại, phương pháp ước tính trong ngành chăn nuôi bò sữa
Theo John Fetrow (2004), vấn đề này được thảo luận tại “Hội nghị Khám phá về Loại thải ở bò sữa” tháng 10 năm 2004 tại Mỹ. Trước đó mộ tiểu ban được thành lập để đưa ra phác thảo các thuật ngữ về loại thải ở các trang trại bò sữa. Tiểu ban này gồm: John Fetrow (VMD, MBA, College of Veterinary Medicine, University of Minnesota), Ken Nordlund (DVM, School of Veterinary Medicine, University of Wisconsin) và Duane Norman (PhD, USDA Animal Improvement Program Laboratory, Beltsville, MD). Họ đã có một bản nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này. Chúng tôi xin tóm tắt như sau.

Theo (2004), vấn đề này được thảo luận tại “Hội nghị Khám phá về Loại thải ở bò sữa” tháng 10 năm 2004 tại Mỹ. Trước đó mộ tiểu ban  được thành lập để đưa ra phác thảo các thuật ngữ về loại thải ở các trang trại bò sữa. Tiểu ban này gồm:

Định nghĩa loại thải (culling)

Theo khái niệm cũ thuật ngữ "Loại thải- Culling" thường ám chỉ việc loại đi những cá thể không mong muốn hoặc chết. Tuy nhiên hiện nay, khái niệm này được mở rộng hơn, vì sự rời đi của con bò ra khỏi đàn do bán (sold), giết mổ (slaughter), tận thu (salvage) hoặc chết (died) đều được gọi là “Loại thải”.  Và để phù hợp với hoàn cảnh này các tác giả đề nghị sử dụng thuật ngữ “Herd turnover rate” – “tức tỉ lệ hao hụt” để thay cho thuật ngữ trên.

Phân loại

Theo cách cũ loại thải được phân làm 2, là “tự nguyện – voluntary” và “không tự nguyện – involuntary”. Loại đầu là trường hợp bán bò để nuôi vắt sữa hoặc cho mục đích khác với điều kiện bò được bán bình thường về sức khỏe cũng như năng suất bình thường. Loại sau là trường hợp bò bị loại thải do viêm vú, què quặt, sinh sản kém, bệnh tật, tử vong, v.v... Cách phân loại này không phản ánh thực tế của quyết định loại thải hoặc bản chất lý do tại sao con bò được loại thải.

Một cách phân loại mới và được đề nghị sử dụng đó là “loại thải kinh tế - economic culling” và “loại thải sinh học biological culling- cũng được gọi là "loại thải cưỡng bức". Loại đầu xảy ra khi ta tiến hành loại những con bò không thể để sản xuất tiếp, hoặc ví dụ bị sét đánh, vô sinh, bị thương tích không chữa được, mắc bệnh lao, v.v… Loại thải loại này thường chiếm tỉ lệ nhỏ. “Loại thải kinh tế” xẩy ra khi người chăn nuôi loại bỏ đi loại bò “không kinh tế” và có thể thay thế chúng bằng các con bò mới mang lại lợi ích hơn cho  kinh tế cho người nuôi.

Xác định tỉ lệ hao hụt đàn (herd turnover rate)

Trong thực tiễn nhiều thuật ngữ để mô tả loại thải và cũng nhiều chỉ của nó được sử dụng. Đó là "Tỷ lệ hao hụt đàn – Herd turnover rate" (Minnesota DHIA,  và những tác giả khác), "Tỷ lệ loại thải – Culling rate" (Brett 2003; Hoekema năm 1999, và nhiều người khác), "Tỷ lệ rời đàn - percent left herd " (Smith 2000), "Phần trăm đàn rời đi - percent leaving " (Gangwer), "Số bò đi khỏi đàn - cows left herd - " (AgSource), và "Số bò còn lại đàn,% - cows left herd, %" (Mẫu Wisconsin DHIA Herd Tóm tắt 202), "Tỷ lệ thay thế - replacement" (Allaire 1981)… Các phương pháp tính các chỉ số này có thể khác nhau; và thậm chí cùng một loại nhưng các tác giả lại tính theo kiểu khác nhau (ví dụ như trường hợp của hai tác giả Brett, 2003 và  Hoekema, 1999). Điều này cảnh báo một khi sử dụng các chỉ số loại thải ta cần tìm hiểu chúng được tính như thế nào (Radke 2001).

 Tỷ lệ hao hụt đàn được tính như sau

Số bò loại thải trong một khoảng thời gian (năm) * 100 / Số bò có mặt trung bình trong kỳ (hoặc nếu có là số bò – năm có nguy cơ)

Chỉ số này cũng được gọi với các tên như "Tỉ lệ loại thải - cull rate","Phần trăm xuất đàn - percent exiting ", và "Tỷ lệ để lại " trong các ấn phẩm khác nhau.

Một chỉ số thay thế được mô tả bởi tác giả khác nhau và được sử dụng trong một số hệ thống ghi chép (recording system) ( "Tỷ lệ hao hụt đàn - Herd turnover rate " theo cách gọi của Radke, 2001 và "Tỷ lệ loại thải" theo cách gọi của Hội cải tiến ngành sữa Minnesota, Mỹ – (Minnesota  Dairy Herd Improvement Association - DHIA) được tính bằng cách thêm số bò loại thải trong mẫu số.  

Số bò loại thải trong một khoảng thời gian (năm) * 100 /Số bò có mặt trung bình trong kỳ + số bò loại thải trong kỳ

Tuy nhiên các tác giả nhóm chuyên gia này cho rằng nếu đưa thêm và mẫu số thành phần “Số bò loại thải trong kỳ” thì dẫn tới làm nhỏ nguy cơ loại thải.

Ứng dụng chỉ số này:

 Giả sử công suất đàn bò 1.000  bò trưởng thành và tỷ lệ loại thải là 33%. Vậy số bò cần thay thế trong 1 năm là 1.000 x 0,33 = 330 con.

 

Các chỉ số khác cũng được dùng để ước tính mức độ thải loại như:

  • 1 / ((tuổi trung bình của bò sữa - trung bình tuổi đẻ đầu tiên) * 2) (Durr, 1997)
  • Xác định tỉ lệ loại thải  của bò qua các chu kỳ sữa. Phương pháp này ứng dụng cho đàn ổn định (Nieuwhof 1989, Durr 1997).

Tính tỷ lệ hao hụt đàn  ở các nhóm bò

            Khi phân tích quá trình loại thải trước, điều rất hữu ích là xem xét các tỷ lệ loại thải trong các nhóm bò khác nhau, ví dụ như xem đàn bò lứa 1, nhóm bò đẻ khó hoặc có vấn đề sức khỏe khác, hoặc bò đẻ trong tháng 7, loại thải trong 60 ngày đầu tiên của chu kỳ, v.v… Các tính toán tỷ lệ thay thế đàn như trên cũng được làm hệt đối với các nhóm bò, nhưng cần lưu ý đảm bảo rằng các nhóm đồng nhất (cohort) làm mẫu được xem xét  cần đi dõi theo một cách chính xác và thông số tính ra phải được miêu tả đúng.

            Đối với các nhóm bò thường xuyên có mặt trong đàn (ví dụ nhóm bò sữa đẻ lứa đầu), ta có thể tính được một ước số hợp lý về nguy cơ  loại thải bằng cách tính toán tỷ lệ loại thải cho nhóm này như thể tính cho toàn đàn, là tổng bò lứa 1 bị loại trong năm chia cho số bò trung bình lứa 1. Đối với các loại khác, việc tính toán này có lẽ nên giống nhiều hơn như nghiên cứu DDN dịch tễ học. Thí dụ để xem xét mức loại thải ở nhóm bò đẻ khó, tốt hơn là ta có thể bắt đầu với tất cả các con bò với đẻ khó và đi theo chúng đến điểm cuối nhất định (có thể hoặc là một năm hoặc hết 1 chu kỳ). Chỉ số tính được là “Tỷ lệ hao hụt” trong năm cho nhóm bò sữa đẻ khó. Các chỉ số này biến động lớn trong trường hợp nhóm bò đó nhỏ. Thí dụ chi số này tính trên 1 nhóm bò 100 con có khi như là trên nhóm 6 con. Vậy nên bất kỳ kết luận nào về các chỉ số đó ở 1 nhóm nhỏ cần “bị” nghi ngờ.

            Chỉ số tính được trong từng đoạn của chu kỳ có thể khác khi tính cho cả chu kỳ. Trong thực tế, một con bò nguy loại thải cao nhất là sau khi đẻ, sau đó giảm xuống hẳn (từng mỗi ngày hoặc mỗi tháng) và rồi lại tăng lên cuối chu kỳ. Tuy nhiên xu hướng này thậm chí không còn nếu tính toán được thực hiện ở một đàn có cơ số ổn định trong một năm, vì có ảnh hưởng của mùa vụ và giai đoạn chu kỳ vốn dĩ có ảnh hưởng tới loại thải. Ngược lại, nếu ta chỉ xem xét loại thải của một nhóm bò lứa đầu trong 6 tháng qua, kết quả ít khả năng phản ánh loại thải cho bò lứa 1 trong cả chu kỳ.

Tỉ lệ loại thải bao nhiêu là tốt

Câu hỏi này khá phổ biến nhưng cũng khó nhất để trả lời. Có một sự đồng thuận chung trong các kết quả điều tra về ngành chăn nuôi bò sữa,  là tỷ lệ loại thải  hàng năm thấp thì mang lợi nhiều hơn và nói chung các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loại thải tối ưu là <=30%, (được xác định trên mô hình hoặc các khảo sát tài chính ở các trang trại bò sữa (Allaire, 1981, Congleton, 1984, Văn Arendonk,1985, Williams 1987)).

Tuy nhiên, không có chỉ số loại thải tối ưu nào thích ứng cho tất cả đàn hoặc cho tất cả các năm. Tỉ lệ loại thải  là kết quả ròng (net) của một loạt các quyết định loại thải thực hiện từng ngày đối với từng cá thể. Những quyết định này xuất phát từ những cân nhắc về kinh tế (giá sữa, giá loại thải, chi phí thay thế, v.v…), năng lực chăn nuôi, sức khỏe và tình trạng sản xuất của bò, bệnh tật và tử vong, mức có sẵn cho thay thế, cân nhắc an toàn sinh học và các điều khác. Nếu trang trại đã ra quyết định loại thải một cách tối ưu, thì tỉ lệ loại thải lúc đó là lý tưởng cho thời điểm đó. Tuy nhiên, nếu định duy trì một tỷ lệ loại thải cao  thì ta nên tiến hành một cuộc điều tra để xác định các yếu tố nguy cơ làm giảm giá trị bò đàn, như là viêm vú, vô sinh, què quặt, v.v…

Bản thống kê tóm tắt về đàn, bao gồm tỷ lệ loại thải, không nên được sử dụng độc lập để đánh giá hiệu quả chăn nuôi. Chỉ nhìn vào chỉ số tính được mà kết luận rằng loại thải là quá cao hoặc quá thấp - là sự sai sót. Ví dụ, một tỷ lệ loại thải 25% không thể phản ánh đàn "tốt" nếu không biết đến tình trạng sinh sản, sức khoẻ của đàn và các điều kiện kinh tế khác. Chỉ số đó chỉ có thể, ví dụ như phản ánh sự bất lực nuôi đàn bê cái để thay thế hoặc thiếu khả năng tài chính để mua bò về thay thế. Cân nhắc vấn đề loại thải nhất thiết được xem là hoạt động hồi cứu hoặc lịch sử. Trong trường hợp tỷ lệ là cố định cho hàng năm, các sự kiện dẫn đến loại thải thường xuyên xảy ra một năm hoặc hơn trước khi các sự loại thải. Vì vậy, một trường hợp ketosis, gan nhiễm mỡ, và bệnh lạc dạ múi khế có thể dẫn đến sản xuất kém và loại thải  sau 16 tháng vắt sữa. Nếu sự kiện thải loại xảy ra 11 tháng trước (và do đó bao gồm ở tỉ lệ loại thải của đàn hiện tại),  thì thực tế quản lý đã hỏng trong chương trình chuyển tiếp  mới làm lại mà bây giờ mới được thể hiện trong các số liệu thống kê vốn đã xảy ra hơn 25 tháng về trước.

Khi nào loại thải và bao nhiêu  

Để đánh giá được vấn đề hãy đánh giá theo nguyên nhân loại thải. Các tác giả khuyên điều này như thể là Tamilee D Nennich (2006) – chuyên gia khuyến nông Hệ thống đại học “The Texas A&M University System”.

Không có chuẩn mực cho việc loại thải. Theo Jim Brett  (2011), thì việc loại thải phụ thuộc vào:

  • Số lượng bò sữa cần có
  • Khả năng thay thế
  • Giá trị bò bán đi
  • Giá trị bò thải loại
  • Trạng thái chửa
  • Lượng sữa cần có để đủ trang trải chi phí…

Các nguyên nhân loại thải thường được đánh giá trong chăn nuôi bò sữa

Hệ thống ghi chép từ lâu đã tạo cơ hội cho người chăn nuôi mô tả "tại sao" một con bò đi ra khỏi đàn. Thông thường giới hạn ở một hoặc hai sự lựa chọn, danh sách thường bao gồm "sinh sản, viêm vú, vú biến dạng, chết, sản xuất thấp, chấn thương, bán để khai thác sữa, đau bàn chân và chân, bệnh, và lý do linh tinh khác.

      Quá trình phân loại nguyên nhân loại thải hay bị mắc lỗi thiên lệch và sai. Đôi khi ta chỉ thấy nguyên nhân cuối cùng vốn rõ ràng và sát thực với sự việc loại thải (thí dụ như bị máy xúc đập, hoặc chết không rõ). Nhưng lý do loại thải đa phần xa xôi, ít rõ ràng, và đa yếu tố. Thí dụ một con bò được nuôi kém trong quá trình chuyển từ bò cạn sang vắt sữa, ketosis phát triển và lệch dạ múi khế, nhiễm trùng vú mãn tính do miễn dịch suy giảm, nhưng lại bị chuyển nhanh chóng sang chế độ ăn nhiều tinh bột và vì thế tính toan dạ cỏ tăng lên và bò mắc bệnh đau chân tiếp, rất chậm chạp trở lại động dục và không muốn đứng yên để phối giống, không bao giờ phối giống thành công và cuối cùng  bị loại  14 tháng sau khi sinh với sản xuất kém, số lượng tế bào soma cao mãn tính, què, và trong tình trạng cơ thể kém. Vậy ta mong đợi gì người nuôi bò khi được yêu cầu nói lý do khiến nó bị thải?

      Vấn đề của việc đưa ra một lý do duy nhất để tiêu hủy được sinh ra trong một nghiên cứu của một số lượng nhỏ các trang trại bò sữa New England nơi người nuôi bò để bán sữa đã được phép cung cấp lên đến ba lý do để chọn lọc (Bascom 1998). Nếu có cơ hội, 35 phần trăm các trường hợp đã được đưa ra hai lý do, 11 phần trăm ba lý do. Ngoài ra, nông dân đã được tự thay đổi (trên phần mềm chung) tiêu chí loại thải và đưa ra quyết định dựa trên các yếu tố xã hội học, thêm vào những kinh tế hoặc sinh học (Beaureau, 1996).

      Mặc dù những vấn đề với phân loại, nó vẫn rõ ràng rằng một số vấn đề quan trọng góp phần vào nguy cơ của một con bò bị tiêu huỷ. Trong nghiên cứu có hiệu quả nhất đặc trưng của toàn bộ ngành công nghiệp sữa của Hoa Kỳ, các Giám sát dịch vụ Thú y Quốc gia đặc trưng lý do tiêu hủy thành bảy loại, không bao gồm cái chết trên sữa (NAHMS 1996). thất bại sinh sản là nguyên nhân hàng đầu đưa ra cho tiêu huỷ, tiếp theo là viêm vú và bầu vú vấn đề, què quặt, sản xuất kém, bệnh tật, gây hấn, và những người khác. Nghiên cứu và đánh giá đã mô tả các loại mô hình và do tác động nguy cơ của một con bò mắc chứng bệnh cụ thể (Smith 2000, Groehn 1998, Beaudeau 1996, Milian-Suazo 1988, Fetrow, 1988).

      Nếu nhà quản lý hồ sơ và vết bệnh lý do tiêu hủy, có lẽ họ làm như vậy để hướng dẫn các quyết định quản lý trong tương lai nhằm tránh các vấn đề dẫn đến những kết quả tiêu hủy không mong muốn. Ngoài ra, chuyên gia tư vấn bên ngoài có thể tham khảo các dữ liệu hay bảng biểu trong một nỗ lực để hiểu rõ hơn về sự cố lâu dài trong quản lý. Chỉ vào lý do tiêu hủy có thể làm nổi bật vấn đề khu vực dài bị bỏ qua và tạo động lực cho sự thay đổi cho tốt hơn hiện hành. Dữ liệu cũng có thể hữu ích như đầu vào cho mô hình kinh tế của chi phí của bệnh hoặc cho các khuyến nghị của các nỗ lực kiểm soát. Đối với những lý do này, những nỗ lực nhỏ nó cần để ghi lại những lý do chung của loại thải gia súc là một phần giá trị của một hệ thống kỷ lục sữa triệt để.

Các tác giả đề nghị rằng các hệ thống ghi lại sữa loại trừ khử bởi các điểm đến đầu tiên (bán, giết mổ, cứu hộ, hoặc tại trang trại chết), và cho phép nhiều lựa chọn các lý do cụ thể được xác định trước để mô tả tốt hơn việc loại bỏ các con bò cá nhân.

Miêu tả lý do loại thải cụ thể

      Từ lâu hệ thống ghi chép đã tạo cơ hội cho người chăn nuôi mô tả "tại sao" một con bò đi ra khỏi đàn. Thường giới hạn ở một hoặc hai sự lựa chọn, danh sách thường bao gồm "sinh sản, viêm vú, cấu tạo vú, chết, sản xuất thấp, chấn thương, bán để khai thác sữa, đau bàn chân và chân, bệnh”, và lý do linh tinh khác.

      Quá trình phân loại lý do loại thải thường hay mắc lỗi thiên lệch và sai. Đôi khi nguyên nhân là rõ ràng và sát với sự việc loại thải (bị máy xúc đập, hoặc chết không rõ), nhưng thông thường các lý do loại thải xa xôi, ít rõ ràng, và đa yếu tố. Hãy xem xét thí dụ như trong quá trình chuyển từ cạn sữa sang vắt sữa một con bò được nuôi kém, vì thế xẩy ra ketosis và lệch dạ múi khế, nhiễm trùng vú mãn tính do miễn dịch suy giảm, đã bị chuyển nhanh chóng sang chế độ ăn nhiều tinh bột và thế rồi xẩy tính toan dạ cỏ  và đau chân  tiếp, nên rất chậm động dục trở lại, không đứng yên để phối giống, nên phối giống mãi mà không chửa và cuối cùng  bị loại thải  14 tháng sau khi sinh do  sản xuất kém, số lượng tế bào soma cao mãn tính, què, và tình trạng cơ thể kém. Vậy ta mong đợi gì người nuôi bò trả lời loại thải vì một lý do?

      Vấn đề của việc đưa ra một lý do duy nhất cho loại thải được sinh ra trong một nghiên cứu trên một ít trang trại bò sữa New England nơi người nuôi bò sữa đã được phép cung cấp đến ba lý do loại thải (Bascom 1998). Nếu có cơ hội, 35 phần trăm trường hợp đưa ra hai lý do, 11 phần trăm ba lý do. Ngoài ra, người nuôi bò có thể được thay đổi tiêu chí loại thải và đưa ra quyết định dựa trên các yếu tố xã hội học, bên cạnh các nguyên nhân kinh tế hoặc sinh học (Beaureau, 1996).

      Mặc dù còn những vấn đề với phân loại, có mộ vài nguyên nhân được phân định rõ rằng là có góp phần vào nguy cơ loại thải. Giám sát dịch vụ Thú y Quốc gia Hoa kỳ đã phân các lý do tiêu hủy thành bảy loại, trừ chết (NAHMS, 1996). Sinh sản kém là nguyên nhân hàng đầu, tiếp theo là viêm vú và vấn đề bầu vú, què quặt, sản xuất kém, bệnh tật, đánh nhau, và những nguyên nhân khác. Các nghiên cứu và các bài đánh giá tổng quan đã mô tả các loại đó và các mối nguy cơ của một con bò mắc chứng bệnh cụ thể (Smith 2000, Groehn 1998, Beaudeau 1996, Milian-Suazo 1988, Fetrow, 1988).

      Nếu nhà quản lý hồ sơ và dò dấu vết của bệnh dẫn đến thải loại, thì có lẽ họ muốn hướng các quyết định loại thải trong tương lai tránh các sai lầm là loại thải những cá thể nhẽ ra không. Ngoài ra, chuyên gia tư vấn bên ngoài có thể tham khảo các dữ liệu đó để hiểu hơn sự cố lâu dài trong quản lý. Chỉ ra các lý do loại thải có thể làm nổi bật vấn đề kéo dài bị bỏ qua và tạo động lực để thay đổi cho tốt hơn hiện hành. Dữ liệu cũng có thể hữu ích khi xác định đầu vào cho mô hình kinh tế đánh giá chi phí do bệnh tật hoặc cho các khuyến nghị về kiểm soát. Vì những lý do này, nỗ lực nhỏ để ghi lại những lý do loại thải rất đáng phải làm của trang trại chăn nuôi.

      Khuyến nghị:Các hệ thống ghi lại sữa loại trừ khử bởi các điểm đến đầu tiên (bán, giết mổ, cứu hộ, hoặc tại trang trại chết), và cho phép nhiều lựa chọn các lý do cụ thể được xác định trước để mô tả tốt hơn việc loại bỏ các con bò cá nhân.

Nguồn: TS. Võ Văn Sự - lược dịch từ: Culling: Nomenclature, definitions and some observations

http://naldc.nal.usda.gov/download/2086/PDF

 

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
 
 
Thiết kế website