Tin KHCN

Kiểm soát sinh trường của bê hậu bị giống bò sữa

Kiểm soát sinh trường của bê hậu bị giống bò sữa
Cần kiểm soát tốc độ sinh trưởng và phát triển của bê hậu bị sao cho đến lúc đẻ bò nặng 612 kg, cao 137,16 cm và điểm thể tạng đạt 3,25 đến 3,5 (thang điểm 5) ở tuổi 24 tháng.

Tom Bailey and Julia M. Murphy 

Cần kiểm soát tốc độ sinh trưởng và phát triển của bê hậu bị sao cho đến lúc đẻ bò nặng 612 kg, cao 137,16 cm và điểm thể tạng đạt 3,25 đến 3,5 (thang điểm 5) ở tuổi 24 tháng. (Hình 1). Sau  khi đẻ lứa 1 bò nặng 556-567 kg, vì thế tăng trọng hàng tháng phải là 22,68 kg (tức 0,82 kg/ngày) từ sơ sinh đến đẻ lần đầu. Tăng trọng dưới mức 0,59 kg/ngày (tương đương với 18,2 kg / tháng) - là quá thấp, vì sau đẻ bò chỉ nặng 432,25 kg.

Hình 1: Khối lượng cơ thế, chiều cao vai, điểm thể tạng ở từng lứa tuổi và giai đoạn
sinh lý ở bò hậu bị giống Holstein

Giá thành để có một bò hậu bị khắp nước Mỹ giao động từ 1000 đến  1350 USD. Nếu giảm được thời gian nuôi ta có thể giảm giá thành đó và rút ngắn thời gian “phi sản xuất”. Chỉ có giám sát được sinh trưởng của bò tơ trong những thời gian nhất định trong sự phát triển này, chủ yếu là khối lượng sữa, số tế bào soma, ngày có thể phối lại được giám sát thì người chăn nuôi mới đảm bảo được mục tiêu đề ra. Nghiên cứu do Hoffman trường ĐH Wisconsin phát hiện ra rằng sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng ở bò hậu bị ở các trại do môi trường (ký sinh, bệnh tật, quạt, đất bùn… ) nhiều hơn là do chế độ dinh dưỡng. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải giám sát tốc độ sinh trưởng  với việc vẽ đồ thị từng thời để có thể thay đổi môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng sao cho bê không lớn quá nhanh cũng không quá chậm.

Thành dục của bò hậu bị  

Sự thành dục của bò hậu bị được xem là thời điểm bò rụng trứng lần đầu. Sau rụng trứng bò bắt đầu động dục với chu kỳ 21 ngày. Tuổi động dục lần đầu sẽ xác định thời điểm phối giống. Chậm động dục sẽ chậm phối giống và đẻ con. Lý tưởng nhất đối với bò Holstein là đạt tuổi thành dục lúc 9-10 tháng tuổi, bắt đầu chu kỳ động dục, và phối đầu tiên lúc 14 - 15 tháng tuổi (Bảng 1) để 23 - 24 là đẻ.

 Bảng 1. Khối lượng cơ thế và tuổi nên có lúc phối giống.

Giống

Khối lượng (kg)

Tuổi (tháng)

Holstein

356

14  - 15

Brown Swiss

356

14  - 15

Milking Shorthorn

341

14  - 15

Guernsey

311

14  - 15

Aryshire

311

14  - 15

Jersey

250

12  - 13

Có một giai đoạn quan trọng khi cho ăn quá mức có thể gây ảnh hưởng bất lợi về phát triển bầu vú. Nó bắt đầu vào khoảng 3 tháng tuổi và kết thúc ở tuổi dậy thì hoặc khoảng 9-10 tháng tuổi. Điều này được gọi là thời kỳ sinh trưởng ảnh hưởng tới phát triển tuyến vú. Trong thời gian này, sự tăng trưởng và phát triển vú là 3,5 lần so với các bộ phận  khác trong cơ thể. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều kiện nuôi dưỡng quá mức trong giai đoạn này xảy ra, mô sản xuất sữa trong vú sẽ giảm đáng kể và thay thế bằng chất béo. Tăng trọng nhanh sau tuổi dậy thì là điều chấp nhận được và có thể cho phép điều chỉnh bù đắp cho tăng cân để mục tiêu của chúng ta lúc 24 tháng và nặng 614,25 kg lúc đẻ. Tuy nhiên, tăng trọng trung bình / ngày nên được giới hạn không vượt quá 770 gam/ngày trong thời gian 3-9 tháng tuổi.

Tuổi dậy thì của bê hậu bị phụ thuộc vào kế hoạch dinh dưỡng và tăng trọng trung bình hàng ngày. Tuổi dậy thì, do đó, có thể bị chậm hoặc tăng. Kế hoạch dinh dưỡng hoặc thay đổi trong chế độ cho ăn - cho dù bê đang nhận được mức năng lượng / dinh dưỡng cao, trung bình, hoặc thấp – thể hiện mức sinh trưởng tăng tốc hoặc giảm tốc độ tăng trưởng (bảng 2). Tuổi dậy thì thường được cho là đạt được khi khối lượng cơ thể đạt 40 -50% khối lượng trưởng thành. Tuổi dậy thì có thể kéo dài khi bò được cho ăn chế độ ăn năng lượng thấp, làm giảm theo tăng trọng hàng ngày. Tuổi dậy thì bị chậm trễ, có khả năng là sự phát triển của tuyến vú cũng bị chậm. Phối giống nên bắt đầu lúc 14-15 tháng tuổi khi bê đạt được 50-60% khối lượng cơ thể trưởng thành để có thai, và lúc 24 tháng nặng 614 kg. Bò  nên cho sữa với một trọng lượng sau đẻ 557- 569kg; do đó, chúng sẽ cần thêm  22,8 kg trọng lượng cơ thể mỗi tháng từ sinh đẻ lần đầu hoặc tăng trung bình hàng ngày 0.82 kg mỗi ngày. Tăng trung bình hàng ngày  592 gam mỗi ngày là quá thấp bởi vì bò chỉ tăng thêm được 18,2 kg mỗi tháng, hậu quả là khối lượng cơ thể sau đẻ là 432 kg.

Bảng 2. Tăng trọng trung bình / ngày và tuổi dậy thì

Tăng trọng (gam)

Tuổi dậy thì (tháng)

910 – tăng quá mức gây tích lũy mỡ trong vú

7

680 –770 (3-9 tháng)

9

546 (quá thấp)

12

264 (chậm động dục -> chậm đẻ

14

Giám sát và vẽ đường tăng trưởng của bê tơ

Biểu đồ tăng trọng, phát triển bộ xương, và điểm thể tạng có thể đánh giá hiệu quả và vạch ra xu hướng hoặc các vấn đề trong quản lý bò cái tơ (Hình 2). Hãy nhớ rằng: NẾU CHÚNG TA CÓ THỂ XÁC ĐỊNH ĐƯỢC NÓ, THÌ CHÚNG TA CÓ THỂ QUẢN LÝ NÓ. Chúng ta cần có ghi chép để điều chỉnh lượng sữa, số lượng tế bào soma, số lần phối giống, và số ngày có thể phối lại. Giám sát sự sinh trưởng và phát triển bò cho chúng ta cơ hội để thay đổi quản lý  dựa trên các dữ liệu thu được. Những biểu đồ này cho thấy giai đoạn tăng trưởng và phát triển trong các nhóm bò và xác định hoặc giảm phát triển bộ xương, điểm thể trạng quá cao hoặc tăng điểm thể trạng quá thấp. Tất cả chúng là những chỉ số tốt cho chế độ ăn không đúng cách hoặc quản lý kém. Chiều cao không đủ thường là một dấu hiệu của protein thấp trong chế độ dinh dưỡng. Điều này thường xảy ra ở những con bò hơn 7 tháng trong mùa hè khi đồng cỏ có chất lượng kém hoặc bò được được cho ăn ngô có protein thấp hoặc thức ăn ủ chua không bổ sung protein. Điểm thể tạng tăng có thể cho thấy bò được ăn ngô ủ chua quá mức hoặc ăn khẩu phần năng lượng cao, thí dụ như ăn lại thức ăn thừa của bò cho sữa. Điểm thết tạng cần được giám sát để đảm bảo cho bò phát triển đầy đủ bộ xương (chiều cao) và khối lượng mô cơ thể. Cần chấm điểm thể trạng ít nhất 5 lần trước 2 tuổi. Việc này có thể được thực hiện kết hợp với các lần tẩy giun, tiêm chủng, phối giống, hoặc kiểm tra thai… Nhưng đáng tiếc, thường việc chấm điểm thể tạng bị lờ đi khi bò được phối và khám thai cho tới khi đẻ. Trong giai đoạn này bò nên được điều tiết sao cho thể trọng và chiều cao đạt được chuẩn lúc đẻ. Theo kinh nghiệm của tác giả, bò cái tơ thường giảm sinh trưởng xuống dưới mục tiêu trong khoảng thời gian giữa phối giống và đẻ (Hình 2). Biểu đồ khối lượng và chiều cao có thể giúp ta bảo chỉnh lý các chỉ số đó đạt mục tiêu lúc phối giống và đẻ (Hình 1). Bò phải được cân hoặc đo chu vi vòng ngực và chiều cao lúc  2,5-3 tháng. Việc này có thể trùng với thời gian bê được chuyển khỏi ô đẻ đến các nơi nuôi khác. Thông thường, chậm 1 tháng tuổi đẻ bắt nguồn từ sinh trưởng và phát triển ba tháng tuổi đầu tiên của bò, hậu quả của chế độ dinh dưỡng và chăm sóc không đạt. Lần thứ 2 nên xác định sự phát triến là lúc bò được 5-6 tháng tuổi. Tiếp đó là 9-12 tháng tuổi để đánh giá giai đoạn quan trọng đến tuổi dậy thì, khi mà phát triển bê là rất quan trọng cho sự phát triển bầu vú. Một đồ thị trước phối giống sẽ xem xét sự phát triển liên quan đến mục tiêu cho phối  giống ở trọng lượng 353 -364 kg và chiều cao đạt 122 cm hoạc cao hơn. Và đo lường thứ năm, lúc 18 - 22 tháng, được thực hiện nhằm giám sát và điêu chỉnh nuôi dưỡng để đảm bảo yêu cầu cho bò sinh đẻ. Năng suất bò tơ thường là dưới mức tối ưu vào lúc này, nhưng có thể được chứng minh rõ ràng với một biểu đồ đơn giản về  trọng lượng và chiều cao trong mối quan hệ với tăng trưởng tối ưu (Hình 2) 

Chấm điểm thể trạng cũng là một công cụ hữu ích trong việc xác định con bò cái đang phát triển thế nào. Bê hậu bị không được phép vượt quá điểm thể trạng của 2,5-2,75 trong thời gian từ 3 tháng tuổi đến tuổi dậy thì, vì nếu điểm số cao hơn có thể dẫn đến tích mỡ trong tuyến vú. Sau tuổi dậy thì và đến thời điểm trước phối, điểm thế tạng  2,75-3,0 là điểm mong muốn cho khả năng sinh sản tối ưu. Lúc đẻ một điểm thể trạng là 3,25-3,5 chấp nhận được vì nếu quá có thể dẫn đến tích lũy chất béo trong xương chậu và gây nên các trục trặc cho việc đẻ.

Vì vậy, tại sao vẫn ít nhà chăn nuôi vẽ biểu đồ tăng trưởng bò? Vì bò tơ là “phi sản xuất” và việc nuôi nó là việc phụ. Cũng thường xẩy ra hiện tượng các nhà chăn nuôi không đủ thiết bị để xử lý đàn bê. Cổng tự khóa đầu tại máng ăn hoặc một ngăn nuôi được thiết kế tốt hoặc 1 cái lồng (xem ảnh) có thể tạo điều kiện tốt hơn cho tiêm chủng, tẩy giun và theo dõi tăng trưởng. Các nhà chăn nuôi đàn bê có thể thấy việc sử cân và công cụ đo rất hiệu quả về kinh tế.

Võ Văn Sự - vovansu.vcn@gmail.com Nguồn: Tom Bailey and Julia M. Murphy (2009?)  Monitoring Dairy Heifer Growth. Publications and Educational Resources. Virginia-Maryland Regional College of Veterinary Medicine; Virginia Tech. https://pubs.ext.vt.edu/404/404-286/404-286_pdf.pdf

 

In trang này
Họ tên*
Email*
Bình luận*
Thông báo
Quảng cáo
Thư viện trực tuyếnĐào tạo sau đại họcĐào tạo theo nhu cầuBản tin Khoa học Công nghệQuy trình, kỹ thuật chăn nuôi, Thực hành chăn nuôiTạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
Thống kê truy cập
Đơn vị trực thuộc
Trung tâm gia súc lớn Trung ương
Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ
Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền Núi
Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên
 
 
 
 
Thiết kế website